Please use this identifier to cite or link to this item: http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6114
Title: Kết quả hoá xạ trị đồng thời triệt căn ung thư thực quản 1/3 giữa - dưới bằng phác đồ XELOX tại bệnh viện K.
Authors: Đỗ, Vân
Advisor: Vũ, Thăng
Keywords: Ung thư thực quản
Issue Date: 2025
Abstract: Theo ghi nhận của GLOBOCAN 2022, ung thư thực quản (UTTQ) đứng thứ 11 trong các bệnh ác tính phổ biến nhất trên toàn thế giới, đứng thứ 7 trong số những nguyên nhân gây tử vong do ung thư (UT). Hơn 70% các tường hợp mắc và tử vong xảy ra ở các nước Châu Á.1 Tại Việt Nam, căn bệnh này đứng vị trí số 12 về tỷ lệ mới mắc, 3686 trường hợp/ năm và đứng thứ 7 về tỷ lệ tử vong 3470 trường hợp/ năm, có xu hướng ngày càng tăng.2 Bệnh nhân thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, khi đã xuất hiện triệu chứng. Nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh mới giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, nhưng tỷ lệ vẫn còn thấp. Nội soi kết hợp sinh thiết được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán. Việc chẩn đoán muộn kết hợp tiến triển và tái phát sớm, tiên lượng của ung thư thực quản vẫn còn rất xấu, tỷ lệ sống thêm 5 năm < 20 %.3 Điều trị UTTQ đa mô thức bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và điều trị miễn dịch và điều trị đích. Lựa chọn phương thức điều trị phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh, vị trí u và thể trạng bệnh nhân. Trong giai đoạn sớm, phẫu thuật là phương pháp ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên không phải bệnh nhân nào cũng đủ điều kiện cho một cuộc phẫu thuật lớn như phẫu thuật ung thư thực quản, như toàn trạng kém, dự trữ phổi kém hay mắc các bệnh lý tim mạch nặng nề đi kèm .Hơn nữa những lo lắng về biến chứng chu phẫu là rất đáng kể, như rò rỉ miệng nối, chấn thương thần kinh thanh quản quặt ngược, viêm phổi, thậm chí nhồi máu cơ tim.4 Sau phẫu thuật một số bệnh nhân tiếp tục rối loạn chức năng tiêu hóa bao gồm khó nuốt do hẹp, chậm làm rỗng dạ dày, trào ngược hay hội chứng Dumping sau cắt dạ dày.5 Hóa xạ trị triệt căn trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong những trường hợp không thể phẫu thuật hoặc không thể cắt bỏ, hay bệnh nhân từ chối phẫu thuật. Lợi ích được chứng minh qua nhiều nghiên cứu, đặc biệt với ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hóa xạ trị triệt căn đối với ung thư biểu mô tuyến thực quản có thể đạt được đáp ứng bệnh học hoàn toàn ở 20-25% bệnh nhân và mang lại thời gian sống thêm toàn bộ không thua kém so với phương thức tiếp cận bằng phẫu thuật.6 Với ung thư thực quản cổ hóa xạ triệt căn là phương pháp điều trị tiêu chuẩn.6 Tính hiệu quả và an toàn của sự phối hợp Paclitaxel và Carboplatin trong phác đồ hóa xạ tiền phẫu chứng minh qua thử nghiệm CROSS, NCCN cũng khuyến nghị phác đồ này như một lựa chọn ưu tiên cho hóa xạ trị triệt căn. 29% bệnh nhân trải qua hóa xạ trị tiền phẫu có đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học, thời gian sống thêm trung bình 49,4 tháng so với 24 tháng trong nhóm phẫu thuật đơn thuần.7 Trong thử nghiệm ngẫu nhiên pha III (PRODIGE5/ ACCORD17), phác đồ FOLFOX chứng tỏ không thua kém về thời gian sống thêm (OS) và thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) so với phác đồ CF.8 Do sự khác biệt về độc tính và tính thuận tiện trong quá trình điều trị, FOLFOX đang trở thành một phác đồ điều trị thay thế khả thi và ngày càng được áp dụng trong thực hành lâm sàng. Để giảm thiểu nhược điểm về độc tính do thời gian truyền kéo dài, cũng như giảm thiểu thời gian điều trị nội trú, Capecitabine được điều trị thay thế cho Fluorouracil trong phác đồ FOLFOX. Do vậy, phác đồ XELOX là một lựa chọn trong thực hành lâm sàng theo hướng dẫn của NCCN.9
URI: http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6114
Appears in Collections:Luận văn bác sĩ nội trú

Files in This Item:
File Description SizeFormat 
2025NTdothihongvan.pdf
  Restricted Access
14.67 MBAdobe PDFbook.png
 Sign in to read
2025NTdothihongvan.docx
  Restricted Access
9.75 MBMicrosoft Word XML


Items in DSpace are protected by copyright, with all rights reserved, unless otherwise indicated.