Vui lòng dùng định danh này để trích dẫn hoặc liên kết đến tài liệu này: http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/1161
Nhan đề: HÌNH THÁI LÂM SÀNG, CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT NANG PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG, BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC, 2015 - 2019
Tác giả: NGUYỄN LÊ, VINH
Người hướng dẫn: NGUYỄN HỮU, ƯỚC
Từ khoá: Ngoại – Lồng ngực
Năm xuất bản: 2020
Nhà xuất bản: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Tóm tắt: Nang phế quản là một trong những dị tật bẩm sinh lành tính hiếm gặp của phổi, do sự phát triển bất thường của mầm cây khí phế quản trong thời kỳ bào thai, xảy ra từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 của thai kỳ, chiếm 15% dị dạng nang phổi bẩm sinh1, Sự phát triển này có thể xảy ra ở bất kỳ điểm nào của cây khí quản mà vị trí u nang có ở trung thất hay trong nhu mô phổi, nếu mầm phế quản bất thường tách khỏi mầm phổi sớm sẽ hình thành nên nang trung thất, muộn sẽ hình thành nang phế quản nhu mô phổi, với vị trí hay phổ biến trong trung thất, nang phế quản chiếm 10% tổng số u trung thất với ưu thế nam giới2. Do đó vị trí của nang phế quản được chia thành hai loại: nang phế quản trung thất và các nang phế quản trong nhu mô phổi, nang phế quản trung thất chiếm 70% - 80%, thường không có liên hệ với cây khí phế quản, trong đó khu vực phổ biến nhất là trung thất giữa chiếm 65% - 90%3,4. Tùy vào hình thái vị trí nang phế quản là trung thất hay trong nhu mô phổi mà biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nang phế quản thường không có triệu chứng đặc hiệu, nếu vị trí nang phế quản trung thất thì biểu hiện lâm sàng là chèn ép, nang phế quản trong nhu mô phổi có biểu hiện lâm sàng là bội nhiễm, triệu chứng chung của đường hô hấp dưới4. Bệnh có thể được chẩn đoán trước sinh, ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ với các triệu chứng chèn ép cơ quan lân cận. Ở người lớn, bệnh thường được chẩn đoán tình cờ khi chụp phim X quang phổi kiểm tra sức khỏe hoặc khi có những đợt bội nhiễm của nang phế quản, biến chứng thông với phế quản thì người bệnh mới có biểu hiện lâm sàng rõ rệt với các biểu hiện đau ngực, khó thở, ho có đờm, ho ra máu …5. Với triệu chứng lâm sàng không điển hình, chẩn đoán nang phế quản chủ yếu dựa vào hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có tiêm thuốc cản quang6,7. Có nhiều phương pháp điều trị nang phế quản, tuỳ thuộc về bản chất nang, triệu chứng xuất hiện và tuổi của người bệnh như điều trị bảo tồn, chọc hút nang phế quản và điều trị phẫu thuật cắt bỏ nang. Hiện nay khi đã được chẩn đoán nang phế quản thì điều trị phẫu thuật cắt bỏ nang là tốt nhất, làm giảm bớt các triệu chứng, ngăn ngừa biến chứng, tránh nguy cơ chèn ép, bội nhiễm, thậm chí là ung thư hoá4,8, với các phương pháp như phẫu thuật mổ mở, phẫu thuật nội soi9,10. Và hiện nay tại Việt Nam có nhiều cơ sở bệnh viện đã phẫu thuật điều trị nang phế quản thường quy, nhưng chưa có nhiều kết quả nghiên cứu chuyên sâu về bệnh lý nang phế quản. Nhằm đánh giá đặc điểm hình thái lâm sàng, cận lâm sàng cũng như kết quả sớm về điều trị phẫu thuật nang phế quản tại bệnh viện Phổi Trung ương và bệnh viện Việt Đức, chúng tôi tiến hành đề tài: “Hình thái lâm sàng, chỉ định phẫu thuật nang phế quản tại bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện Việt Đức, 2015 - 2019” với 02 mục tiêu nghiên cứu: 1. Nhận xét hình thái lâm sàng và chỉ định phẫu thuật nang phế quản được phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện Việt Đức, 2015-2019. 2. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị nang phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện Việt Đức, 2015-2019.  
Định danh: http://dulieuso.hmu.edu.vn//handle/hmu/1161
Bộ sưu tập: Luận văn chuyên khoa 2

Các tập tin trong tài liệu này:
Tập tin Mô tả Kích thước Định dạng  
20CKII0188.pdf
  Tập tin giới hạn truy cập
2.57 MBAdobe PDFHình minh họa
 Đăng nhập để xem toàn văn


Khi sử dụng các tài liệu trong Thư viện số phải tuân thủ Luật bản quyền.