<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/900</link>
    <description />
    <pubDate>Fri, 27 Mar 2026 05:05:01 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-03-27T05:05:01Z</dc:date>
    <item>
      <title>Khảo sát kiến thức về chăm sóc sốt của cha mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5332</link>
      <description>Title: Khảo sát kiến thức về chăm sóc sốt của cha mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024
Authors: Lê Khánh Linh
Abstract: Đặt vấn đề: Sốt là vấn đề đòi hỏi cha mẹ cần có kiến thức và kỹ năng chăm sóc phù hợp. Tuy nhiên, sự hiểu biết về sốt của cha mẹ có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy, việc khảo sát kiến thức có thể giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.&#xD;
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức chăm sóc sốt của cha mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.&#xD;
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 207 cha/mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị tại khoa Nhi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Dữ liệu thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 27.0.&#xD;
Kết quả nghiên cứu: 52.2% cha mẹ cho rằng sốt có hại cho sức khỏe của trẻ. 60.9% cha mẹ trả lời đúng nhiệt độ của sốt. Nhiệt độ trung bình được coi là “sốt cao” là 38.61°C (độ lệch chuẩn: 0.56). 83.6%  cha mẹ lau người bằng khăn ấm và 50.2% tắm nước ấm để hạ sốt cho trẻ. 100% cha mẹ cho trẻ thuốc hạ sốt và 33.8% sử dụng thuốc hạ sốt luân phiên với 47.1% theo chỉ dẫn của bác sĩ nhi khoa. Lo sợ về hậu quả của sốt bao gồm co giật ở 92.8%, mất nước ở 47.8%, tổn thương não ở 21.3% và tử vong ở 10.6%. Ngoài ra, 57.0% đã đánh thức trẻ dậy để cho trẻ uống thuốc hạ sốt.&#xD;
Kết luận và kiến nghị: Nghiên cứu cho thấy còn tồn tại những hiểu lầm trong cộng đồng về sốt và cách chăm sóc trẻ. Điều này cho thấy cần triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe để cập nhật kiến thức cho cha mẹ, giúp họ nhận biết và xử lý sốt ở trẻ một cách an toàn và hiệu quả.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5332</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>KIẾN THỨC THÁI ĐỘ VỚI NHẬN DIỆN XỬ TRÍ &#xD;
PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG KĨ THUẬT VIÊN HỘ SINH &#xD;
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI &#xD;
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5331</link>
      <description>Title: KIẾN THỨC THÁI ĐỘ VỚI NHẬN DIỆN XỬ TRÍ &#xD;
PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG KĨ THUẬT VIÊN HỘ SINH &#xD;
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI &#xD;
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Authors: Vũ, Đức Mạnh
Abstract: Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Thái Nguyễn Hoàng được thực hiện tại bệnh viện Bạch Mai năm 2020 với tiêu đề “ Nghiên cứu đánh giá tình trạng phản vệ tại Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2016 – 2020”. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng phản vệ ngày càng gia tăng trong 5 năm từ năm 2016 ( 0.036%) đến năm 2020 ( 0.92%)&#xD;
Mục tiêu: 1.Mô tả kiến thức, thái độ với nhận diện, xử trí phản vệ của Điều dưỡng – Kỹ thuật viên – Hộ sinh tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024&#xD;
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ  của Điều dưỡng – Kỹ thuật viên – Hộ sinh tham gia nghiên cứu&#xD;
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 389 nhân viên y tế tại bệnh viện đại học y Hà Nội&#xD;
Kết quả nghiên cứu: Trong 389 đối tượng tham gia nghiên cứu có 83.8% có điểm kiến thức ở mức đạt về nhận diện và phòng ngừa phản vệ và 16.2% có điểm kiến thức chưa đạt trong nhận diện và phòng ngừa phản vệ. Trong 389 đối tượng nghiên cứu, có 85.6% đối tượng có thái độ tốt về phòng ngừa phản vệ đạt trên 18 điểm nhưng vẫn có 14.4 % đối tượng có thái độ không tốt. &#xD;
Kết luận: Các đối tượng tham gia nghiên cứu đa phần có kiến thức tốt về phản vệ liên quan đến khái niệm, nguyên nhân, phân độ phản vệ, xử trí phản vệ, phác đồ điều trị và liều lượng. Điểm kiến thức trung bình trong nghiên cứu của tôi là 23 điểm. Điểm trung bình thái độ trong nghiên cứu là 20,28 ± 3,76.&#xD;
Hầu hết các nhân viên y tế có thái độ tích cực trong việc tham gia học hỏi và phòng ngừa phản vệ cho bệnh nhân. Tôi cũng tìm ra có mối liên quan giữa kiến thức và thái độ; thâm niên làm việc, chuyên ngành đào tạo với kiến thức nhận diện và xử trí phản vệ. Chúng tôi còn tìm thấy mối liên quan giữa tuổi, chuyên ngành đào tạo, thâm niên, việc cập nhật kiến thức với thái độ nhận diện và xử trí phản vệ.  Những nhân viên y tế có kiến thức tốt thì thái độ phòng phản vệ ở mức tốt hơn.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5331</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Đánh giá nhu cầu kiến thức của người bệnh phẫu thuật thần kinh trước khi xuất viện tại khoa Phẫu thuật thần kinh I, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5330</link>
      <description>Title: Đánh giá nhu cầu kiến thức của người bệnh phẫu thuật thần kinh trước khi xuất viện tại khoa Phẫu thuật thần kinh I, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Authors: Hoàng Thị Trà, My
Abstract: Đặt vấn đề: Phẫu thuật thần kinh (PTTK) là một trong những phẫu thuật lớn có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, làm suy giảm chức năng và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Nhu cầu kiến thức về chăm sóc và điều trị của người bệnh sau PTTK là rất lớn tuy nhiên ở Việt Nam việc đánh giá nhu cầu kiến thức của người bệnh còn hạn chế. Vì vậy việc xác định nhu cầu kiến thức ở nhóm người bệnh này là quan trọng và cần thiết. Mục tiêu: Mô tả nhu cầu kiến thức của người bệnh có PTTK trước khi xuất viện. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang lấy mẫu thuận tiện trên 182 người bệnh PTTK khi xuất viện tại khoa PTTK 1- Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2024. Các thông tin thu thập bao gồm: nhân khẩu học và đánh giá nhu cầu kiến thức của người bệnh bằng thang điểm nhu cầu kiến thức người bệnh (Patient Learning Needs Scale- PLNS). Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0. Kết quả: Tổng điểm trung bình PLNS là 200,01 ± 8,67. Người bệnh có nhu cầu kiến thức cao nhất liên quan đến cách phòng ngừa biến chứng và thông tin điều trị (38,79±2,64), các kiến thức về hoạt động sinh hoạt hàng ngày (38,34±2,54). Nhu cầu được cung cấp kiến thức đối mặt với các cảm xúc liên quan đến tình trạng bệnh là thấp nhất (16,96±2,09). Kết luận: Mức độ nhu cầu kiến thức ở người bệnh PTTK tương đối cao. Do đó, giáo dục sức khoẻ trước khi xuất viện có thể được lên kế hoạch phù hợp với nhu cầu kiến thức và ưu tiên của nhóm người bệnh này, đặc biệt là các thông tin liên quan đến cách phòng ngừa biến chứng và thông tin về điều trị, qua đó nâng cao nhận thức và sự hài lòng của người bệnh.</description>
      <pubDate>Sat, 01 Jun 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5330</guid>
      <dc:date>2024-06-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Thực trạng loét tỳ đè của người bệnh tại đơn vị Hồi sức Ngoại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024 và một số yếu tố liên quan</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5329</link>
      <description>Title: Thực trạng loét tỳ đè của người bệnh tại đơn vị Hồi sức Ngoại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024 và một số yếu tố liên quan
Authors: Quàng, Thị Ngân
Abstract: Mục tiêu: Đánh giá thực trạng loét tỳ đè tại đơn vị Hồi sức Ngoại Bệnh viện Bạch Mai và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến loét tỳ đè tại đơn vị Hồi sức Ngoại Bệnh viện Bạch Mai.&#xD;
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu thuần tập, chọn mẫu toàn bộ, sử dụng thang điểm Braden để đánh giá nguy cơ loét tỳ đè trên người bệnh tại đơn vị Hồi sức Ngoại – Trung tâm Gây mê Hồi sức.&#xD;
Kết quả: Trong 170 người bệnh tham gia nghiên cứu, tỷ lệ người bệnh loét tỳ đè chiếm 27,6%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về loét tỳ đè và thể trạng với p&lt;0,05; loét tỳ đè và tình trạng thở máy với p&lt;0,001. Tỷ lệ loét ở nhóm người bệnh trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ loét ở nam cao hơn nữ. Tỷ lệ loét ở nhóm người bệnh thể trạng trung bình cao hơn nhóm người bệnh có thể trạng gầy và thừa cân. Tỷ lệ nhóm người bệnh có loét thở máy &gt;7 ngày cao hơn nhóm người bệnh thở máy ≤7 ngày.&#xD;
Kết luận: Thực trạng loét tỳ đè ở người bệnh là vấn đề đáng được quan tâm. Việc triển khai những phương pháp dự phòng sớm loét tỳ đè và điều trị kịp thời để giảm thiểu tình trạng loét tỳ đè tiến triển là cần thiết, đặc biệt là những người bệnh nằm tại đơn vị Hồi sức.&#xD;
Từ khóa: loét tỳ đè, tỷ lệ loét tỳ đè, thang điểm Braden.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5329</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT TRÊN &#xD;
NGƯỜI BỆNH  CẮT TOÀN BỘ TUYẾN GIÁP&#xD;
 DO UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HÓA&#xD;
 TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2024</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5328</link>
      <description>Title: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT TRÊN &#xD;
NGƯỜI BỆNH  CẮT TOÀN BỘ TUYẾN GIÁP&#xD;
 DO UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HÓA&#xD;
 TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2024
Authors: Nguyễn Thị, Thu
Abstract: Ung thư tuyến giáp là loại ung thư nội tiết phổ biến nhất và có sự gia tăng nhanh chóng trên thế giới và Việt Nam. Phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị ung thư tuyến giáp, vấn đề chăm sóc sau phẫu thuật có thể ảnh hưởng trực tiếp tới kêt quả điều trị. Mục tiêu: Nhận xét triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng sau phẫu thuật cắt tàn bộ tuyến giáp. Đánh giá kết quả chăm sóc sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp của nhóm đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 63 bệnh nhân được chuẩn đoán ung thư tuyến giáp tại Khoa Ngoại Đầu Cổ từ 15/03/2024 -  30/04/2024.&#xD;
        Kết quả nghiên cứu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: Tuổi mắc bệnh trung bình là 48,76 ± 12,546 tuổi, tỉ lệ mắc nữ/nam = 4/1. Dấu hiệu triệu chứng trước khi vào viện: xuất hiện khối u (15,9%), nuốt vướng (14,3%), khám định kì phát hiện u (60,3%). Tỉ lệ một u và đa u xấp xỉ nhau; TIRADS 4 (61,9%), TIRADS 5 (23,8%). Đánh giá chăm sóc: Chăm sóc vết mổ, dịch dẫn lưu từ 50 – 100ml. Các biến chứng sau phẫu thuật: trong 22 người bệnh xuất hiện biến chứng khản tiếng sau phẫu thuật (33,3%); cơn co rút ngón tay, chân (1,6%). Người bệnh được hướng dẫn chế độ dinh dưỡng sau phẫu thuật (95,2%), người bệnh cảm thấy thoải mái và hài lòng với môi trường điều trị và sự chăm sóc của NVYT. Kết luận: Người bệnh được theo dõi và chăm sóc sau phẫu thuật toàn bộ. Người bệnh hài lòng với sự chăm sóc của NVYT và môi trường điều trị.</description>
      <pubDate>Fri, 28 Jun 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5328</guid>
      <dc:date>2024-06-28T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM HPV TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ AMIDAN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5327</link>
      <description>Title: KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM HPV TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ AMIDAN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Authors: Đại Diễm, Quỳnh
Abstract: Ung thư amidan là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính của tế bào biểu mô phủ amidan hoặc các mô liên kết trong cấu trúc amidan. Ung thư amidan thường được xếp trong nhóm ung thư vùng họng miệng gồm: amidan, màn hầu, đáy lưỡi, thành sau họng. Trong đó, ung thư amidan là dạng ác tính phổ biến nhất của vùng giải phẫu này. Tỷ lệ ung thư biểu mô vảy (UTBMV) ở vùng đầu và cổ có HPV dương tính có xu hướng tăng trong đó HPV16 là type gặp thường xuyên nhất, sau đó là HPV18. Tại Việt Nam nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa ung thư vùng họng miệng nói chung và ung thư amidan nói riêng với HPV và týp HPV còn nhiều hạn chế. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát tỷ lệ HPV dương tính trên 42 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào vảy amidan (TSCC) tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội bằng phương pháp Semi Nested PCR, và khảo sát sự phân bố týp HPV bằng phương pháp giải trình tự gen. Kết quả cho thấy tỷ lệ HPV dương tính trên bệnh nhân ung thư amidan là 40%, các týp được phát hiện là HPV16 (90%) và HPV18 (10%) và HPV là yếu tố nguy cơ của TSCC. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đánh giá mối liên quan giữa HPV và TSCC cùng với đó phổ biến các yếu tố nguy cơ ung thư vùng họng miệng để người dân có lối sống lành mạnh, giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5327</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Kết quả chuyển hai phôi ngày 5 trữ lạnh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5326</link>
      <description>Title: Kết quả chuyển hai phôi ngày 5 trữ lạnh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023
Authors: Lê, Hoàng Long
Abstract: Việc chuyển phôi ngày 5 đã trở nên rất phổ biến trong Hỗ trợ sinh sản vì tỷ lệ thành công cao, đặc biệt khi bệnh nhân được chuyển 2 phôi ngày 5 trong 1 chu kỳ. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ có thai, đa thai và một số yếu tố ảnh hưởng của phương pháp chuyển hai phôi ngày 5. Nghiên cứu mô tả hồi cứu ở 390 chu kỳ IVF chuyển hai phôi ngày 5 tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Công nghệ Mô ghép, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023. Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân có độ tuổi trung bình 32,54 ± 4,66 (tuổi),  thời gian vô sinh trung bình là 3,47±2,63 (năm). Các bệnh nhân có độ dày niêm mạc tử cung trung bình là 11,22±2,62(mm), đa phần các bệnh nhân được chuyển 2 phôi tốt (46,15%). Tỷ lệ có thai là 77,69%, tỷ lệ đa thai là 32,34%. Kết quả cho thấy chất lượng phôi ảnh hưởng đến kết quả có thai, với nhóm bệnh chuyển hai phôi tốt cho tỷ lệ có thai cao nhất với 82,78% cũng như tỷ lệ đa thai cao nhất với 50,34%. Tuổi của người mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai với nhóm &lt;35 tuổi, tỷ lệ có thai cao hơn với 81,92%. Độ dày niêm mạc tử cung 8-14mm có tỷ lệ có thai cao nhất với 83,85%</description>
      <pubDate>Tue, 04 Jun 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5326</guid>
      <dc:date>2024-06-04T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Đánh giá nhiễm khuẩn vết mổ nội soi lồng ngực tại khoa phẫu thuật lồng ngực – Mạch máu bệnh viện Bạch Mai năm 2024 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5325</link>
      <description>Title: Đánh giá nhiễm khuẩn vết mổ nội soi lồng ngực tại khoa phẫu thuật lồng ngực – Mạch máu bệnh viện Bạch Mai năm 2024 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan
Authors: Nguyễn, Thị Quỳnh
Abstract: Nhiễm khuẩn vết mổ luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu sau phẫu thuật. Tại khoa phẫu thuật lồng ngực bệnh viện Bạch Mai, số ca phẫu thuật nội soi lồng ngực chiếm tỉ lệ cao, một số bệnh nhân sau phẫu thuât gặp phải tình trạng nhiễm trùng vết mổ sau phẫu thuật tuy nhiên chúng tôi chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này được báo cáo tại khoa và trong nước. Vậy nên tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài “Đánh giá nhiễm khuẩn vết mổ nội soi lồng ngực tại khoa phẫu thuật lồng ngực – Mạch máu bệnh viện Bạch Mai nămm 2024 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan”.&#xD;
Mục tiêu nghiên cứu: &#xD;
- Đánh giá tỉ lệ người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật nội soi lồng ngực ở người bệnh khoa Phẫu thuật lồng ngực – Mạch máu bệnh viện Bạch Mai.&#xD;
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ ở người bệnh phẫu thuật nội soi lồng ngực&#xD;
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 59 bệnh nhân phẫu thuật nội soi lồng ngực tại khoa Phẫu thuật lồng ngực - Mạch máu Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả được xử lí và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.&#xD;
Kết quả nghiên cứu: Tổng số 59 (n=59) người bệnh đã được khảo sát, có 5% trường hợp mắc NKVM nội soi lồng ngực. Tìm được một số yếu tố liên quan đến NKVM nội soi lồng ngực.&#xD;
Kết luận: Tỉ lệ NKVM nội soi lồng ngực là 5%. Các yếu tố liên quan đến nkvm bao gồm: BMI, thời gian phẫu thuật. Các biện pháp phòng ngừa chăm sóc vết thương là cần thiết để giảm tỉ lệ và hậu quả của NKVM.</description>
      <pubDate>Mon, 24 Jun 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5325</guid>
      <dc:date>2024-06-24T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Sự cô lập xã hội và một số yếu tố liên quan ở người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5324</link>
      <description>Title: Sự cô lập xã hội và một số yếu tố liên quan ở người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Authors: Vũ, Thị Thu Huyền
Abstract: Tiêu đề: Sự cô lập xã hội và một số yếu tố liên quan ở người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.&#xD;
Đặt vấn đề: Già hóa dân số là thách thức lớn cho toàn xã hội. Khi tuổi cao hơn, các mối quan hệ xã hội có thể thay đổi vì nhiều lí do làm cho sự cô lập xã hội đang lan rộng và dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi cho người cao tuổi, trong khi đó các nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam còn  hạn chế mặc dù tính quan trọng của vấn đề&#xD;
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích mô tả tình trạng cô lập xã hội ở người cao tuổi và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến cô lập xã hội ở người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.&#xD;
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. &#xD;
Đối tượng: 283 người bệnh từ 60 tuổi trở lên đến khám và điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2024.&#xD;
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cô lập xã hội ở người cao tuổi tương đối cao (47,3%), điểm trung bình theo thang đo mạng xã hội Lubben-6 là 11,7 ± 5,0, trong đó  21,2% người cao tuổi có tình trạng cô lập trong mối quan hệ với gia đình và 57,6% người cao tuổi có tình trạng cô lập trong mối quan hệ với bạn bè. Một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê như: Sống cùng người chăm sóc/sống một mình (OR = 6,76), sinh sống ở khu vực thành thị (OR = 3,07), nghề nghiệp hiện tại ở nhà (OR = 3,60); suy giảm hoạt động chức năng hằng ngày có sử dụng phương tiện, dụng cụ (IADL) (OR = 6,33), suy giảm nhận thức (OR = 4,67), trầm cảm (OR = 2,53). Suy giảm hoạt động chức năng hằng ngày (ADL) có mối liên quan với giảm nguy cơ cô lập xã hội ở người cao tuổi (OR = 0,22).&#xD;
Kết luận:  Kết quả nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ cô lập xã hội cao ở người cao tuổi vì vậy việc đánh giá tình trạng cô lập xã hội và các yếu tố nguy cơ gây ra cô lập xã hội ở người cao tuổi cần được thực hiện thường xuyên tại các cơ sở y tế và tại cộng đồng nhằm phát hiện và xây dựng các chiến lược hiệu quả nhất nhằm giảm tình trạng cô lập xã hội ở người cao tuổi. Nghiên cứu của chúng tôi có thể là dữ liệu ban đầu góp phần thúc đẩy và xây dựng các nghiên cứu trong tương lai trong việc đánh giá và phát triển các mô hình can thiệp mới giúp giảm thiểu tình trạng cô lập xã hội ở người cao tuổi.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5324</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Thực trạng trầm cảm (thang GDS - 15) ở bệnh nhân sa sút trí tuệ tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5323</link>
      <description>Title: Thực trạng trầm cảm (thang GDS - 15) ở bệnh nhân sa sút trí tuệ tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Authors: Lê, Thị Thanh Hiền
Abstract: Đặt vấn đề: Sa sút trí tuệ là rối loạn thần kinh đặc trưng bởi tình trạng suy giảm nhận thức với các triệu chứng ban đầu phổ biến nhất là giảm trí nhớ gần. Song song với tình trạng suy giảm nhận thức có đến 90% người bệnh sa sút trí tuệ còn gặp phải các triệu chứng về hành vi và tâm lý. Trong đó trầm cảm là một trong những triệu chứng phổ biến nhất và nó không chỉ gây giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh mà còn ảnh hưởng đến người chăm sóc họ.&#xD;
Mục tiêu: (1)Mô tả thực trạng trầm cảm ở người bệnh mắc chứng sa sút trí tuệ tại BV Lão khoa TW.(2) Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh sa sút trí tuệ.&#xD;
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang&#xD;
Kết quả: Tỷ lệ trầm cảm trên người bệnh sa sút trí tuệ: 40.5%. Trong đó các yếu tố liên quan: tuổi, giới, trình độ học vấn, mức độ suy giảm nhận thức, các bệnh lý mạn tính: đái tháo đường, tăng huyết áp, không có ý cnghĩa thống kê. Bên cạnh đó những bệnh nhân có CLGN kém có tỷ lệ trầm cảm cao 62.2% (p=0.0000&lt;0.05), bệnh nhân có các triệu chứng tâm thần kinh kèm theo: kích động cũng có tỷ lệ  trầm cảm cao: 53.8% (p=0.023) và ở những bệnh nhân tập thể dục cho thấy tỷ lệ trầm cảm giảm.&#xD;
Khuyến nghị: những bệnh nhân sa sút trí tuệ khuyến khích tập thể dục giảm các triệu chứng trầm cảm và đối với những bệnh nhân sa sút trí tuệ có CLGN kém/triệu chứng kích động cần phải đánh giá thêm về các triệu chứng cảm xúc.</description>
      <pubDate>Tue, 02 Jul 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/5323</guid>
      <dc:date>2024-07-02T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

