Vui lòng dùng định danh này để trích dẫn hoặc liên kết đến tài liệu này: http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/1540
Toàn bộ biểu ghi siêu dữ liệu
Trường DCGiá trị Ngôn ngữ
dc.contributor.advisorTrần Thị Phương, Mai-
dc.contributor.authorLÊ DUY, TOÀN-
dc.date.accessioned2021-11-13T04:04:10Z-
dc.date.available2021-11-13T04:04:10Z-
dc.date.issued2020-
dc.identifier.urihttp://dulieuso.hmu.edu.vn//handle/hmu/1540-
dc.description.abstractUng thư cổ tử cung (UTCTC) là loại ung thư phổ biến ở nữ, đứng thứ tư trong các loại ung thư ở nữ và thứ hai trong các ung thư phụ khoa trên toàn thế giới1,2. Hàng năm trên thế giới có khoảng 527.624 người mắc mới và khoảng 265.672 người chết do UTCTC. Theo công bố WHO năm 2017 ước tính hàng năm nước ta có khoảng 5146 phụ nữ được chẩn đoán mắc UTCTC đứng thứ 4 trong các loại ung thư ở phụ nữ và 2423 người chết vì căn bệnh này đứng thứ 6 trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ Việt Nam1,3,4. Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung (Cervical Intraepithelial Neoplasia) (CIN)) là những thay đổi của biểu mô cổ tử cung có thể tiến triển từ mức độ thấp đến cao và có thể chuyển thành ung thư xâm lấn khi phá vỡ màng đáy. Tổn thương tiền ung thư về phương diện tế bào học được chia thành 2 mức độ tổn thương biểu mô gai mức độ thấp(LSIL) và mức độ cao (HSIL)5. Nhiễm một hay nhiều type HPV (Human Papillomavirus) nguy cơ cao là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tế bào, trải qua giai đoạn tiền ung thư và dẫn đến ung thư cổ tử cung (UTCTC)1. Các nghiên cứu cho biết 90% trường hợp nhiễm HPV sẽ tự khỏi trong vòng 2 đến 3 năm. Các trường hợp nhiễm HPV dai dẳng, kéo dài có xu hướng tiến triển qua giai đoạn tiền ung thư thành ung thư cổ tử cung3. Hiện nay, đã phát hiện được hơn 200 type HPV, trong đó có khoảng 30-40 type lây truyền qua đường tình dục và chỉ có một số type HPV gây ung thư cổ tử cung (gọi là các type HPV nguy cơ cao). Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra có ít nhất 12 type HPV nguy cơ cao, đó là: type 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58,59, 66, 68 và 2 type nguy cơ rất cao 16,186,7,8. Nhiễm HPV nguy cơ cao được tìm thấy trong khoảng 90% các tổn thương tiền ung thư ở cổ tử cung9,10. Đặc biệt hai nhóm HPV 16, 18 chiếm 25,8% các trường hợp LSIL và 51,9% các trường hợp HSIL1. Quá trình tiến triển tính từ khi nhiễm HPV từ giai đoạn tiền ung thư đến UTCTC thường kéo dài từ 5-20 năm. Đây chính là một điều kiện thuận lợi cho việc sàng lọc phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư cũng như tìm ra mối liên quan với HPV nguy cơ cao để đưa ra chiến lược phòng chống UTCTC bằng việc dự phòng sơ cấp (tiêm vaccine) cũng như dự phòng thứ cấp (sàng lọc phát hiện sớm và điều trị từ giai đoạn tiền ung thư cổ tử cung)2,11. Cho đến nay, chưa có bất kỳ một nghiên cứu nào xác định được tỷ lệ mắc tổn thương tiền ung thư tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, đặc điểm của tổn thương tiền ung thư mức độ cao và mối liên quan với nhiễm HPV. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc tổn thương tiền ung thư cổ tử cung HSIL ở phụ nữ đến khám tại Bệnh Viện Phụ sản Hà Nội và định type HPV gây tổn thương ” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tổn thương tiền ung thư cổ tử cung HSIL ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 2. Nhận xét mối liên quan giữa tổn thương HSIL và type HPV nguy cơ cao.  vi_VN
dc.language.isovivi_VN
dc.publisherTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘIvi_VN
dc.subjectSản phụ khoavi_VN
dc.titleNGHIÊN CỨU TỶ LỆ HIỆN MẮC TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG HSIL Ở PHỤ NỮ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI VÀ ĐỊNH TYPE HPV GÂY TỔN THƯƠNGvi_VN
dc.typeThesisvi_VN
Bộ sưu tập: Luận văn chuyên khoa 2

Các tập tin trong tài liệu này:
Tập tin Mô tả Kích thước Định dạng  
21CKII0347.pdf
  Tập tin giới hạn truy cập
2.7 MBAdobe PDFHình minh họa
 Đăng nhập để xem toàn văn


Khi sử dụng các tài liệu trong Thư viện số phải tuân thủ Luật bản quyền.