<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/903</link>
    <description />
    <pubDate>Tue, 13 Oct 2026 12:20:02 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-10-13T12:20:02Z</dc:date>
    <item>
      <title>Thực trạng hệ thống giám sát hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6493</link>
      <description>Title: Thực trạng hệ thống giám sát hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023
Authors: Trần, Thị Trang
Abstract: TÓM TẮT&#xD;
Tên đề tài: Thực trạng hệ thống giám sát hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023&#xD;
Học viên: Trần Thị Trang. Chuyên ngành: Dịch tễ học. Mã số: 8720117&#xD;
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Quang Thái; TS. Phạm Phương Mai&#xD;
&#xD;
Mục tiêu: (1) Mô tả các thuộc tính của hệ thống giám sát hội chứng Rubella bẩm sinh (CRS) tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023; (2) Phân tích một số thách thức và giải pháp duy trì hệ thống.&#xD;
Đối tượng và phương pháp: Thiết kế hỗn hợp: cắt ngang hồi cứu trên toàn bộ 1.844 phiếu điều tra ca nghi CRS (trẻ dưới 12 tháng tuổi) giai đoạn 2017–2023, kết hợp phỏng vấn sâu 15 cán bộ y tế tham gia hệ thống (6 cán bộ Bệnh viện Nhi Trung ương, 9 cán bộ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương). Sáu thuộc tính theo hướng dẫn của CDC được đánh giá: tính đơn giản, chất lượng dữ liệu, khả năng chấp nhận, giá trị dự báo dương, tính đại diện, tính kịp thời. Số liệu được phân tích mô tả, phân tích nội dung, kết hợp phân tích SWOT và biểu đồ xương cá.&#xD;
Kết quả chính: 15/15 cán bộ đánh giá quy trình đơn giản; hoàn thiện phiếu điều tra là bước khó nhất (4/6). 61,2% phiếu đầy đủ cả sáu nhóm thông tin; nhóm tiền sử của mẹ thấp nhất (63,2%), các nhóm còn lại đạt 89,9–97,2%. 14/15 cán bộ sẵn sàng tiếp tục tham gia. Giá trị dự báo dương 2,39% (44/1.844; 0,74–4,25% theo năm). Ca nghi chủ yếu ở miền Bắc, tập trung tại Hà Nội và lân cận. Tỷ lệ điều tra, lấy mẫu, chuyển mẫu và trả kết quả đúng hạn lần lượt 97,4%, 98,5%, 83,3% và 91,5%. Thách thức chính: thiếu kinh phí ổn định sau khi hỗ trợ của WHO kết thúc, cán bộ kiêm nhiệm, chưa có đầu mối chuyên trách, phối hợp và phản hồi chưa thường xuyên. Nguyên nhân thiếu thông tin tiền sử của mẹ thuộc ba nhóm: nhân lực; kinh phí; quản lý, phối hợp; trong đó các nguyên nhân về quản lý, phối hợp, tập huấn và phân công cán bộ chuyên trách hoàn toàn khả thi để can thiệp.&#xD;
Kết luận: Hệ thống tương đối đơn giản, được chấp nhận và kịp thời; hạn chế chính là thông tin tiền sử của mẹ chưa đầy đủ và thiếu bền vững về kinh phí, nhân lực. Giá trị dự báo dương thấp cần được diễn giải trong bối cảnh tỷ lệ hiện mắc CRS thấp và định nghĩa ca nghi rộng.</description>
      <pubDate>Fri, 09 Oct 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6493</guid>
      <dc:date>2026-10-09T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm LODS ở người bệnh sốc nhiễm khuẩn điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6492</link>
      <description>Title: Giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm LODS ở người bệnh sốc nhiễm khuẩn điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
Authors: Ngô Việt, Phú
Abstract: Nghiên cứu mô tả hồi cứu nhằm đánh giá giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm LODS ở 246 người bệnh sốc nhiễm khuẩn điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ 01/2023 đến 02/2026. Kết quả, trung vị tuổi người bệnh là 66 tuổi, nam/nữ là 2,84/1, tỷ lệ tử vong chiếm 59,3%. Có 94,3% người bệnh suy từ 2 tạng trở lên, trong đó suy hô hấp (87,8%), suy thận (41,5%), rối loạn huyết học (36,6%) và suy gan (22,4%). Tại thời điểm chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn (T0) và sau 48 giờ (T1) điểm LODS có trung vị lần lượt là 6 (IQR:4-8) và 4 (IQR: 2-6). Điểm LODS của nhóm tử vong cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sống ở cả T0 và T1. Điểm LODS ở T1 có giá trị tiên lượng tử vong tốt hơn ở T0 (AUC T1=0,793; AUC T0=0,653; p &lt; 0,001), điểm cut-off tại T0 và T1 là 5,5 và 3,5. Bệnh nhân có điểm LODS T0 ≥ 5,5 có nguy cơ tử vong cao gấp 2,95 lần (KTC 95%: 1,73–5,01; p&lt;0,001) và điểm LODS T1 ≥ 3,5 có nguy cơ tử vong gấp 5,97 lần (KTC 95%: 3,41–10,46; p &lt; 0,001). Tại thời điểm sốc nhiễm khuẩn, giá trị tiên lượng tử vong của LODS không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với SOFA và APACHE II. Sau 48 giờ, giá trị tiên lượng tử vong của LODS không khác biệt so với APACHE II và lactat, nhưng thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với thang điểm SOFA. Kết luận, thang điểm LODS có thể được sử dụng trong đánh giá mức độ suy tạng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, đặc biệt là sau 48 giờ điều trị.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6492</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Thực trạng hệ thống giám sát hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6491</link>
      <description>Title: Thực trạng hệ thống giám sát hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ dưới 1 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023
Authors: Trần, Thị Trang
Abstract: Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính nhằm mô tả thực trạng hệ thống giám sát (HTGS) hội chứng&#xD;
rubella bẩm sinh (CRS) ở trẻ dưới 1 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2017–2023, đồng thời&#xD;
cung cấp một số cơ sở cho việc tái hoạt động và duy trì bền vững HTGS CRS. Dữ liệu được thu thập từ&#xD;
1.844 phiếu điều tra ca nghi CRS và phỏng vấn sâu 15 nhân viên y tế. Kết quả ghi nhận 44 trường hợp&#xD;
CRS được xác định (chiếm 2,39% trong tổng số ca nghi CRS); hoạt động giám sát các ca nghi CRS chủ&#xD;
yếu diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm; 97,94% ca nghi CRS đến từ Hà Nội và các vùng lân cận.&#xD;
Chất lượng dữ liệu còn hạn chế khi tỷ lệ phiếu điều tra đầy đủ thông tin chỉ đạt 61,2%; trong đó, nhóm thông&#xD;
tin về tiền sử của mẹ có tỷ lệ đầy đủ thấp nhất (63,2%), trong khi thông tin lâm sàng và xét nghiệm đạt trên&#xD;
90%. Phân tích SWOT cho thấy HTGS có nền tảng tốt nhưng vẫn tồn tại hạn chế về tổ chức, nhân lực, tài&#xD;
chính và tính bền vững. Dù vẫn khẳng định được giá trị trong việc phát hiện ca bệnh và theo dõi dịch tễ,&#xD;
HTGS CRS còn hạn chế về tính liên tục, tính đại diện và chất lượng dữ liệu. Kết luận cho thấy cần củng cố&#xD;
và tái khởi động HTGS theo hướng tích hợp và bền vững hơn.</description>
      <pubDate>Fri, 09 Oct 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6491</guid>
      <dc:date>2026-10-09T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT CƠ SỞ VĨNH PHÚC, TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6490</link>
      <description>Title: ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT CƠ SỞ VĨNH PHÚC, TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Authors: Bùi Thị Ngọc, Thương
Abstract: Nghiên cứu đánh giá động lực làm việc (ĐLLV) của nhân viên y tế tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cơ sở Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ năm 2025 - trong bối cảnh tái cấu trúc sáp nhập bộ máy và vận hành phân tán địa lý – ghi nhận mức ĐLLV chung đạt ngưỡng khá tích cực với điểm trung bình 3,63 ± 0,34 điểm và 70,30% cán bộ đạt mức động lực cao (≥ 3,50 điểm). Sự phân hóa giữa 06 cấu phần phản ánh lực đẩy của tinh thần nội tại và rào cản vận hành: Ý thức trách nhiệm đối với công việc (88,12% đạt mức cao) và Mối quan hệ nơi làm việc (78,22%; điểm trung bình 3,98) là hai khía cạnh dẫn đầu; trong khi Quá tải do công việc (39,60%) và Động lực chung (34,65%) ở mức thấp nhất do gánh nặng đối soát báo cáo dịch tễ và áp lực kinh tế. Phân tích hai biến định lượng chỉ ra nhóm tuổi dưới 40 (OR = 3,78; p = 0,035) và trình độ Sau đại học (OR = 3,10; p = 0,024) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với cơ hội đạt ĐLLV chung cao hơn. Bên cạnh đó, dữ liệu định tính và thứ cấp làm rõ các đòn bẩy động lực cốt lõi là lòng tự hào nghề nghiệp đối với triết lý "phòng bệnh hơn chữa bệnh" cùng sự tương trợ đồng nghiệp; Ngược lại, các rào cản chính kìm hãm động lực bao gồm hạ tầng máy tính văn phòng xuống cấp, gánh nặng đối soát số liệu báo cáo giữa 3 cơ sở phân tán, sự chưa đồng đều trong phân bổ Phụ cấp ưu đãi nghề theo Nghị định 05/2023/NĐ-CP đối với khối phòng chức năng, Quy chế chi tiêu nội bộ áp trần xếp loại A (≤ 40%) và sự thu hẹp không gian thăng tiến tại chỗ sau sáp nhập.</description>
      <pubDate>Thu, 08 Oct 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6490</guid>
      <dc:date>2026-10-08T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Thực trạng và một số biện pháp phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ giai đoạn 2022-2024</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6489</link>
      <description>Title: Thực trạng và một số biện pháp phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ giai đoạn 2022-2024
Authors: Phùng Thị, Thủy
Abstract: Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) vẫn đang là vấn đề sức khỏe cần được quan tâm tại Việt Nam. Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và kết quả xử lý ổ dịch SXHD tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ giai đoạn 20222024. Dữ liệu được hồi cứu từ báo cáo ổ dịch và điều tra véc tơ tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc. Giai đoạn 2022-2024 ghi nhận 557 ổ dịch, tập trung chủ yếu trong năm 2023 và tại huyện Yên Lạc (30,7%), Vĩnh Tường (29,3%), và Phúc Yên (20,6%). Thời gian phát hiện ổ dịch trung bình 2,02 ngày, có xu hướng tăng qua các năm. Sau xử lý, 99,8% ổ dịch được kiểm soát trong vòng 14 ngày, và 100% được phun hóa chất ít nhất 1 lần. Diệt lăng quăng/bọ gậy kết hợp giám sát véc tơ được triển khai tại 29,4% số ổ dịch. Aedes albopictus là véc tơ phát hiện trong các dụng cụ chứa nước. Các chỉ số véc tơ giảm rõ rệt sau xử lý (BI giảm 61,5%, HI giảm 65,2%, DI giảm 90,5%, CSNCM giảm 89,6%). Công tác xử lý ổ dịch đạt tỷ lệ kiểm soát cao, nhưng thời gian phát hiện có xu hướng kéo dài và hoạt động kiểm soát véc tơ còn hạn chế. Cần tăng cường nguồn lực chuyên trách và thúc đẩy kiểm soát véc tơ dựa vào cộng đồng.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6489</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Thực trạng điều trị viêm đốt sống đĩa đệm nhiễm khuẩn tại Trung tâm Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6488</link>
      <description>Title: Thực trạng điều trị viêm đốt sống đĩa đệm nhiễm khuẩn tại Trung tâm Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai
Authors: Nguyễn Thị, Ánh
Abstract: Viêm đốt sống đĩa đệm nhiễm khuẩn là một bệnh lý nghiêm trọng, gây ra những di chứng nặng nề nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nghiên cứu mô tả thực trạng điều trị của 111 bệnh nhân được chẩn đoán viêm đốt sống đĩa đệm nhiễm khuẩn tại Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai (07/2025 – 08/2026). Tuổi trung bình là 64. Đau cột sống chiếm tỷ lệ 95,5%. Hạn chế vận động cột sống gặp ở 75,5% &#xD;
trường hợp. Sốt chỉ ghi nhận ở 25,2% bệnh nhân, 54% bệnh nhân có ít nhất một triệu chứng thần kinh. Thời gian từ khi khởi phát triệu chứng đến nhập viện 30 ngày. Tỷ lệ tìm thấy căn nguyên vi sinh là 43,2% với Stapplylococcus areus là tác phân phổ biến nhất. Điều trị chủ yếu bằng kháng sinh theo kinh nghiệm, phác đồ phổ biến là Vancomycin kết hợp Ceftazidim (31,3%). Thời gian điều trị kháng sinh trung bình 7 tuần. Tỷ lệ phẫu thuật là 21,6%. Tỷ lệ khỏi hoàn toàn là 37,8%. Di chứng xảy ra ở 39,6% bệnh nhân. Tỷ lệ tử vong quan sát được là 3,6%. Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định 4 yếu tố liên quan độc lập với kết quả điều trị kém gồm: tổn thương thần kinh, CRP tăng cao ≥ 50 mg/L, thời gian khởi phát triệu chứng kéo dài và đái tháo đường.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6488</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố tiên lượng nặng ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết do S. maltophilia tại Bệnh viện Bạch Mai</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6487</link>
      <description>Title: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố tiên lượng nặng ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết do S. maltophilia tại Bệnh viện Bạch Mai
Authors: Đinh, Thu Hoài
Abstract: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố tiên lượng nặng ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết do S. maltophilia tại Bệnh viện Bạch Mai</description>
      <pubDate>Wed, 07 Oct 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6487</guid>
      <dc:date>2026-10-07T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Thực trạng và một số biện pháp phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ giai đoạn 2022-2024</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6486</link>
      <description>Title: Thực trạng và một số biện pháp phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ giai đoạn 2022-2024
Authors: Phùng Thị, Thủy
Abstract: Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) vẫn đang là vấn đề sức khỏe cần được quan tâm tại Việt Nam. Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và kết quả xử lý ổ dịch SXHD tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ giai đoạn 20222024. Dữ liệu được hồi cứu từ báo cáo ổ dịch và điều tra véc tơ tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc. Giai đoạn 2022-2024 ghi nhận 557 ổ dịch, tập trung chủ yếu trong năm 2023 và tại huyện Yên Lạc (30,7%), Vĩnh Tường (29,3%), và Phúc Yên (20,6%). Thời gian phát hiện ổ dịch trung bình 2,02 ngày, có xu hướng tăng qua các năm. Sau xử lý, 99,8% ổ dịch được kiểm soát trong vòng 14 ngày, và 100% được phun hóa chất ít nhất 1 lần. Diệt lăng quăng/bọ gậy kết hợp giám sát véc tơ được triển khai tại 29,4% số ổ dịch. Aedes albopictus là véc tơ phát hiện trong các dụng cụ chứa nước. Các chỉ số véc tơ giảm rõ rệt sau xử lý (BI giảm 61,5%, HI giảm 65,2%, DI giảm 90,5%, CSNCM giảm 89,6%). Công tác xử lý ổ dịch đạt tỷ lệ kiểm soát cao, nhưng thời gian phát hiện có xu hướng kéo dài và hoạt động kiểm soát véc tơ còn hạn chế. Cần tăng cường nguồn lực chuyên trách và thúc đẩy kiểm soát véc tơ dựa vào cộng đồng.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6486</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>THỰC TRẠNG VÀ RÀO CẢN TIÊM VẮC-XIN PHÒNG HPV CỦA NAM SINH VIÊN TẠI MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NĂM 2025</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6485</link>
      <description>Title: THỰC TRẠNG VÀ RÀO CẢN TIÊM VẮC-XIN PHÒNG HPV CỦA NAM SINH VIÊN TẠI MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NĂM 2025
Authors: Nguyễn, Quốc Khánh
Abstract: Mô tả thực trạng tiêm vắc-xin phòng HPV ở nam sinh viên tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2025. Mô tả một số rào cản ảnh hưởng đến tiêm vắc-xin phòng HPV ở nam sinh viên tại địa điểm nghiên cứu  năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 07 năm 2025 – tháng 06 năm 2026. Nghiên cứu ghi nhận sự đối lập rõ rệt giữa nhận thức ban đầu và hành vi tiêm chủng vắc-xin phòng HPV ở nam sinh viên: phần lớn đối tượng đã từng nghe nói đến vắc-xin (94,3%; n = 330), nhưng tỷ lệ thực hành tiêm chỉ đạt 6,0% (n = 21). Đáng lưu ý, trong số sinh viên đã tiếp cận vắc-xin, tỷ lệ tuân thủ phác đồ đầy đủ còn thấp khi có tới 71,4% mới hoàn thành mũi tiêm đầu tiên. Phân tích hồi quy logistic đơn biến chưa ghi nhận yếu tố nào có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê đối với quyết định tiêm chủng ở đối tượng nghiên cứu (p &gt; 0,05). Dù tỷ lệ nhận biết về vắc-xin HPV ở nam sinh viên rất cao (94,3%), tỷ lệ tiêm chủng thực tế còn rất thấp (6,0%) và chưa ghi nhận yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p &gt; 0,05).</description>
      <pubDate>Tue, 06 Oct 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6485</guid>
      <dc:date>2026-10-06T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Chi phí – hiệu quả của vắc xin cúm mùa ở người cao tuổi tại Việt Nam</title>
      <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6484</link>
      <description>Title: Chi phí – hiệu quả của vắc xin cúm mùa ở người cao tuổi tại Việt Nam
Authors: Đỗ Thị Ngọc, Bích
Abstract: Mục tiêu: (1) Mô tả nguồn và đánh giá chất lượng dữ liệu tham số cho mô hình kinh tế y tế vắc-xin cúm mùa tại Việt Nam năm 2025; (2) Phân tích chi phí – hiệu quả của đầu tư tiêm vắc-xin cúm mùa tứ giá từ ngân sách nhà nước cho người từ 65 tuổi trở lên tại Việt Nam năm 2025.&#xD;
Đối tượng và phương pháp: Đối tượng nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp từ các nguồn công bố trong và ngoài nước. Nghiên cứu dùng tổng quan tài liệu có chủ đích kết hợp tham vấn chuyên gia để xác định nguồn và xếp mức tin cậy cho 18 nhóm tham số. Mô hình cây quyết định tĩnh một mùa cúm áp dụng cho khoảng 10 triệu người từ 65 tuổi trở lên, so sánh việc tiêm chủng (bao phủ chuẩn hóa 100%) với hiện trạng. Phân tích thực hiện theo góc nhìn hệ thống y tế và xã hội; kết cục là năm sống được cứu, chiết khấu 3%. Nghiên cứu phân tích độ nhạy một chiều, kịch bản, ngưỡng giá và xác suất (10.000 lượt mô phỏng).&#xD;
Kết quả chính: 18 nhóm tham số trong đó có 10 nhóm tham số có nguồn từ Việt Nam. Tỷ suất tử vong và hiệu quả chống tử vong có độ tin cậy thấp nhưng chi phối kết quả mạnh nhất. Với vốn đầu tư 3.102,7 tỷ đồng mỗi năm, khoản đầu tư tránh được 1.562 ca tử vong, 6.003 ca nhập viện (36.018 ngày nằm viện) và cứu được 17.186 năm sống. Tỷ số gia tăng chi phí – hiệu quả là 177,4 triệu đồng mỗi năm sống được cứu, bằng 1,41 lần GDP bình quân đầu người. Mức này nằm trong dải hiệu quả chi phí theo ngưỡng tham chiếu 1–3 lần GDP; 99,6% lượt mô phỏng cho kết quả dưới 3 lần GDP. Chi phí điều trị tránh được chỉ bù đắp 1,7% vốn đầu tư. Giá vắc-xin dưới 213.789 đồng mỗi liều đưa tỷ số xuống dưới 1 lần GDP.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6484</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

