<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <channel rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/902">
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/902</link>
    <description />
    <items>
      <rdf:Seq>
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6472" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6450" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6448" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6447" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6446" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6444" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6443" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6442" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6441" />
        <rdf:li rdf:resource="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6440" />
      </rdf:Seq>
    </items>
    <dc:date>2026-03-26T14:25:01Z</dc:date>
  </channel>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6472">
    <title>Khảo sát tình trạng lo âu ở người bệnh viêm loét đại tràng điều trị nội trú</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6472</link>
    <description>Title: Khảo sát tình trạng lo âu ở người bệnh viêm loét đại tràng điều trị nội trú
Authors: Nguyễn, Thị Mai Hương
Abstract: I. Đặt vấn đề:&#xD;
Viêm loét đại tràng mạn tính là bệnh lý viêm ruột mạn tính thường gặp, có diễn biến kéo dài, tái phát nhiều lần và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống người bệnh. Bên cạnh các biểu hiện thực thể, các rối loạn tâm lý, đặc biệt là lo âu, ngày càng được ghi nhận là yếu tố quan trọng tác động đến diễn tiến bệnh, tuân thủ điều trị và kết cục lâm sàng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá có hệ thống tình trạng lo âu và các yếu tố liên quan ở người bệnh viêm loét đại tràng còn hạn chế. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh viêm loét đại tràng mạn tính.&#xD;
&#xD;
II. Mục tiêu nghiên cứu:&#xD;
&#xD;
1. Xác định tỷ lệ lo âu ở người bệnh viêm loét đại tràng mạn tính điều trị nội trú.&#xD;
&#xD;
2. Phân tích mối liên quan giữa tình trạng lo âu với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ hoạt động của bệnh.&#xD;
&#xD;
III. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:&#xD;
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 78 người bệnh viêm loét đại tràng mạn tính điều trị nội trú tại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 8/2024 đến tháng 8/2025. Tình trạng lo âu được đánh giá bằng thang điểm Zung Self-Rating Anxiety Scale (SAS). Mức độ hoạt động bệnh được xác định dựa trên chỉ số Mayo và phân loại Truelove–Witts. Phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập với lo âu.&#xD;
&#xD;
IV. Kết quả:&#xD;
Tỷ lệ người bệnh có lo âu (SAS ≥45) là khoảng 43,6%. Lo âu gặp nhiều hơn ở nhóm người bệnh có mức độ hoạt động bệnh vừa – nặng. Phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập với tình trạng lo âu bao gồm: CRP ≥10 mg/L (OR≈3,10), thiếu máu (OR≈2,90) và chỉ số Mayo ≥5 (OR≈3,33). Ngoài ra, lo âu có xu hướng gia tăng ở người bệnh có mức độ viêm nặng theo Truelove–Witts, mô bệnh học mức độ nặng và tổn thương lan rộng.</description>
    <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6450">
    <title>So sánh kết quả điều trị bệnh nấm móng tay do Candida bằng uống terbinafin và itraconazol</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6450</link>
    <description>Title: So sánh kết quả điều trị bệnh nấm móng tay do Candida bằng uống terbinafin và itraconazol
Authors: Nguyễn, Thị Hà Minh
Abstract: Nấm móng là bệnh tương đối phổ biến, chiếm khoảng 5% dân số thế giới. Tỉ lệ mắc bệnh khác nhau ở từng quốc gia. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là khoảng 10%. Bệnh không chỉ gây tác động đến thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới tâm lý người bệnh, gây tự ti trong giao tiếp. Bệnh nấm móng có thể gây nên do các chủng nấm khác nhau: nấm sợi (dermatophyte), nấm men (yeast) hoặc nấm mốc (mold), trong đó nấm sợi là phổ biến nhất chiếm trên 90%. Trong các thuốc uống chống nấm toàn thân, itraconazol và terbinafin là những thuốc hay được sử dụng nhất để điều trị nấm móng</description>
    <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6448">
    <title>NHẬN XÉT KẾT QUẢ XỬ TRÍ SẢN KHOA CỦA THAI PHỤ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ SAU 34 TUẦN TẠI&#xD;
BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6448</link>
    <description>Title: NHẬN XÉT KẾT QUẢ XỬ TRÍ SẢN KHOA CỦA THAI PHỤ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ SAU 34 TUẦN TẠI&#xD;
BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN
Authors: Nguyễn Thị, Phương Lâm
Abstract: Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một thể của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), là bệnh rối loạn chuyển hoá thường gặp nhất trong thai kỳ và có xu hướng ngày càng tăng, nhất là khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam [1]. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ĐTĐTK “là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai” [1].&#xD;
	 Có nhiều bằng chứng chỉ ra mối liên hệ giữa ĐTĐTK với tăng tỷ lệ các biến cố trước sinh, trong chuyển dạ và sau sinh ở mẹ và thai nhi như tiền sản giật, sảy thai, thai chết lưu, thai to gây đẻ khó, ngạt sơ sinh... [2]. Cụ thể, ĐTĐTK có thể làm tăng tỷ lệ chẩn đoán tiền sản giật gấp khoảng 2 lần so với nhóm chứng (không mắc bệnh) và thường chiếm khoảng 6 – 8% [3, 4]. Việc kiểm soát glucose máu không tốt ở bệnh nhân ĐTĐTK làm tăng vận chuyển glucose qua bánh rau khiến thai nhi tăng glucose máu, tăng tiết insulin kích thích phát triển mô mỡ dẫn đến thai to gây đẻ khó với tỷ lệ tử 13 – 17% [3, 4]. Và chính các nguyên nhân gây đẻ khó cũmg làm tăng tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ ĐTĐTK lên đến khoảng 80 – 90% tùy theo từng khu vực và tỷ lệ chảy máu sau đẻ có thể lên đến 6 – 7% [3-6].&#xD;
Bên cạnh đó, trẻ sơ sinh của những bà mẹ bị ĐTĐTK có nguy cơ cao bị hạ đường máu, vàng da và nguy cơ sau này bị béo phì, ĐTĐ týp 2... [7]. Khoảng 30-50% phụ nữ mắc ĐTĐTK sẽ tiếp tục mắc ĐTĐTK trong lần mang thai tiếp theo, và có nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 về sau[8]. So với phụ nữ da trắng, phụ nữ vùng Đông Nam Á có nguy cơ mắc ĐTĐTK cao hơn 7,6 lần[9]. Việt Nam là nước nằm trong vùng có nguy cơ mắc ĐTĐTK cao. Tỷ lệ ĐTĐTK ở nước ta dao động từ 3,6 - 39%, thay đổi tuỳ theo vùng miền. &#xD;
	Nhiều công trình nghiên cứu về ĐTĐTK đã được thực hiện, nhờ đó những hiểu biết về bệnh và việc kiểm soát bệnh càng ngày càng đạt được hiệu quả hơn. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng, tỉ lệ thai phụ điều trị quản lí và điều trị ĐTĐTK ngày càng phức tạp.&#xD;
	Triển khai tầm soát và xác định tỷ lệ ĐTĐTK, tìm kiếm các giải pháp theo dõi, quản lý thai nghén với thai phụ mắc ĐTĐTK, sự chia sẻ thông tin giữa bác sĩ nội tiết, bác sĩ sản khoa, các cơ sở quản lý thai nghén và thai phụ là rất cần thiết trong tình hình hiện tại. &#xD;
Nghệ An là một tỉnh nghèo, có thu nhập bình quân đầu người nằm trong tốp thấp nhất cả nước trong khi lại có dân số đông thứ tư với hơn 3,4 triệu người (năm 2024) và có diện tích lớn nhất cả nước. Điều kiện chăm sóc sức khỏe phụ nữ có thai đặc biệt trên nhóm bệnh nhân đái thao đường thai kỳ còn nhiều khó khăn. Đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào về xứ trí những thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ trên địa bàn tỉnh. Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “Nhận xét kết quả xử trí sản khoa của thai phụ đái tháo đường thai kỳ sau 34 tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An” với 2 mục tiêu:&#xD;
1.	Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thai phụ đái tháo đường thai kỳ sau 34 tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An 2022 - 2023.&#xD;
2.	Nhận xét kết quả xử trí sản khoa ở nhóm thai phụ đái tháo đường thai kỳ trên.</description>
    <dc:date>2025-12-24T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6447">
    <title>Kết quả gây chuyển dạ bằng truyền Oxytocin ở sản phụ ối vỡ non từ tuổi thai 34 tuần tại bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh năm 2025</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6447</link>
    <description>Title: Kết quả gây chuyển dạ bằng truyền Oxytocin ở sản phụ ối vỡ non từ tuổi thai 34 tuần tại bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh năm 2025
Authors: Nguyễn Thị, Nga
Abstract: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ ối vỡ non từ tuổi thai 34 tuần tại bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh.&#xD;
2. Mô tả kết quả gây chuyển dạ bằng truyền Oxytocin  ở những sản phụ trên.</description>
    <dc:date>2025-12-31T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6446">
    <title>Nhận xét kết quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai đủ tháng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6446</link>
    <description>Title: Nhận xét kết quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai đủ tháng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh
Authors: Nguyễn Thị, Liệu
Abstract: 1.	Nhận xét kết quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai đủ tháng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh.&#xD;
2.	Mô tả một số yếu tố liên quan đến kết quả kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai ở nhóm bệnh nhân trên.</description>
    <dc:date>2025-12-30T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6444">
    <title>THỰC TRẠNG MỔ LẤY THAI CON SO ĐỦ THÁNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6444</link>
    <description>Title: THỰC TRẠNG MỔ LẤY THAI CON SO ĐỦ THÁNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN
Authors: Nguyễn Thị, Diễm Thương
Abstract: Hiện nay tại Việt Nam, mổ lấy thai (MLT) là phẫu thuật rất phổ cập có thể thực hiện ở tất cả các cơ sở sản khoa có phòng mổ từ tuyến huyện trở lên để giải quyết những trường hợp đẻ khó, những trường hợp không thể đẻ đường âm đạo do nhiều lý do khác nhau. Những trường hợp này nếu không được MLT kịp thời sẽ có rất nhiều tai biến và biến chứng nặng nề thậm chí đe dọa tính mạng mẹ và thai.&#xD;
	Con so là những thai phụ chưa sinh con lần nào1 (hoặc chưa lần nào sinh con sau 24 tuần). Thai đủ tháng là thai có tuổi thai từ 37 tuần trở lên. Một vấn đề đang được các nhà sản khoa quan tâm đó là chỉ định MLT ở sản phụ con so vì nếu tỷ lệ MLT tăng lên sẽ kéo theo cả một hệ lụy nặng nề về lâu dài như: tăng nguy cơ người mẹ mang thai bị rau tiền đạo, rau cài răng lược, chửa sẹo mổ lấy thai, vỡ tử cung, nhiễm trùng vết mổ và tăng các chỉ định không cần thiết, nhất là tác động trực tiếp làm tăng tỷ lệ MLT từ lần 2 trở đi. Do đó việc kiểm soát và đưa ra những chỉ định MLT hợp lý, đặc biệt ở sản phụ con so đủ tháng là việc làm cần thiết góp phần làm giảm tỷ lệ MLT.&#xD;
	Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ MLT trên thế giới nói chung cũng như tại Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh.2–4 Có nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này. Về mặt chuyên môn, các bác sĩ ngại theo dõi những trường hợp đẻ khó, mất nhiều thời gian, sợ bị kiện tụng khi có tai biến, MLT có chi phí cao hơn. Ngành sản khoa cũng đứng trước áp lực lớn từ xã hội, báo chí, cộng đồng mạng… Vì vậy, nhiều bác sỹ, nhiều cơ sở y tế đã đưa ra chỉ định quá sớm, không kiên trì theo dõi những trường hợp đẻ khó. Về mặt xã hội, có nhiều yếu tố tác động như con quý hiếm, có thai do chữa vô sinh nhiều năm, sinh con theo ý muốn, tâm lý cộng đồng cho rằng mổ lấy thai an toàn hơn, tâm lý sợ đau đẻ, chọn ngày chọn giờ sinh cho con, tỉ lệ phụ nữ lớn tuổi mang thai tăng.&#xD;
	Tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An, mỗi năm tiếp nhận khoảng 10.000 sản phụ đến sinh. Tỉ lệ mổ lấy thai tại bệnh viện có xu hướng ngày một tăng, hiện nay dao động trong khoảng 50 - 60%. Với mong muốn kiểm soát tốt chỉ định mổ lấy thai, tránh những trường hợp MLT không đúng chỉ định, đặc biệt những chỉ định mổ chưa chặt chẽ ở sản phụ con so, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng mổ lấy thai con so đủ tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An" với hai mục tiêu nghiên cứu:&#xD;
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ mổ lấy thai con so đủ tháng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2024.&#xD;
2. Nhận xét một số chỉ định mổ lấy thai của nhóm sản phụ trên</description>
    <dc:date>2025-12-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6443">
    <title>NHẬN XÉT KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI  THAI LẠC CHỖ Ở GÓC – KẼ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6443</link>
    <description>Title: NHẬN XÉT KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI  THAI LẠC CHỖ Ở GÓC – KẼ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN
Authors: Nguyễn Xuân, Chung
Abstract: Thai lạc chỗ hay còn được gọi là thai ngoài tử cung là hiện tượng trứng thụ tinh, làm tổ và phát triển ngoài buồng tử cung. Đây là một cấp cứu sản phụ khoa, nếu không được chẩn đoán, xử trí kịp thời, khối thai vỡ gây chảy máu trong ổ bụng đe dọa tính mạng người bệnh và thậm chí tử vong. Tỉ lệ thai lạc chỗ có xu hướng tăng tại Việt Nam và trên toàn thế giới. Theo nghiên cứu của Stulberg tại Hoa Kỳ, tỉ lệ thai lạc chỗ giai đoạn 1991 - 1992 là 1,97%, tăng lên 2,07% - 2,43% trong giai đoạn 2000 - 2003 [1]. Nghiên cứu của Mai Trọng Dũng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỉ lệ thai lạc chỗ ngày càng tăng, từ năm 2003 đến 2013 là 6,67%, năm 2015 là 6,9% trường hợp thai lạc chỗ trên tổng số người bệnh đến điều trị [2]. Theo nghiên cứu của Vương Tiến Hòa có tới 56,51% thai lạc chỗ chẩn đoán muộn [3]. &#xD;
Việc phân biệt thai ở góc tử cung hay thai ở đoạn kẽ vòi tử cung trên thực tế gặp nhiều khó khăn, ngoài ra còn do sự không nhất quán về thuật ngữ trong các tài liệu [4]. Thai lạc chỗ ở góc - kẽ tử cung chiếm tỉ lệ 2 - 4% tổng số thai lạc chỗ và khoảng 1 trong 2.500 - 5.000 trẻ sinh sống [5]. Mặc dù hiếm gặp nhưng thai lạc chỗ ở góc - kẽ tử cung có tỷ lệ vỡ là 13,6%, tỷ lệ tử vong mẹ cao khoảng 2 - 2,5%, chiếm 20% tổng số ca tử vong do thai lạc chỗ, cao gấp 7 lần so với thai lạc chỗ ở vị trí khác trên vòi tử cung [5].&#xD;
Thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung có khả năng phát triển lớn hơn so với thai lạc chỗ ở những vị trí khác cùng trên vòi tử cung. Do đặc điểm khối thai nằm trong lớp cơ tử cung dày, khả năng giãn nở tốt của lớp cơ bao quanh túi thai, vì vậy có các triệu chứng muộn nên chẩn đoán có thể trì hoãn hoặc bỏ sót [4]. Thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung nhận được nguồn máu nuôi dồi dào bởi các nhánh tận của động mạch tử cung và vòng nối với động mạch vòi tử cung, nên mất máu nhiều và sốc có thể xảy ra rất nhanh, khi vỡ nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Biến chứng nguy hiểm nhất của thai làm tổ ở vị trí này là vỡ khối thai, gặp trong 20% trường hợp và thường gặp lúc thai trên 12 tuần [6], [7]. Thai lạc chỗ ở góc - kẽ tử cung thường được chẩn đoán từ sau tuổi thai 9 - 12 tuần, chậm hơn so với xảy ra ở các vị trí khác của vòi tử cung, thậm chí có ca được báo cáo vỡ khi thai đã 17 tuần [8]. Tuy nhiên, cũng có nhiều báo cáo vỡ khối chửa lúc tuổi thai 7 - 9 tuần [9]. &#xD;
Chẩn đoán và điều trị sớm thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung là một trong những chìa khóa để giảm nguy cơ vỡ khối chửa cho người bệnh. Phương thức điều trị thai ở góc – kẽ tử cung có thể là nội khoa hoặc phẫu thuật. Can thiệp phẫu thuật là một chọn lựa điều trị quan trọng, đôi khi là chỉ định tuyệt đối trong một số trường hợp [10]. Gần đây, khi kỹ thuật nội soi phát triển, phẫu thuật nội soi dần thay thế phẫu thuật mở trong điều trị thai ở góc – kẽ tử cung.&#xD;
Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi (PTNS) trong điều trị thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung đã được sử dụng ở nhiều bệnh viện trên cả nước, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu được báo cáo vì tỷ lệ mắc bệnh thấp. Tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An, PTNS điều trị thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung đã được ứng dụng trong vài năm trở lại đây nhưng chưa có các báo cáo và nguyên cứu tổng kết. Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nhận xét kết quả phẫu thuật nội soi thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An” với 2 mục tiêu sau: &#xD;
1.	Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ năm 2022 đến năm 2024.&#xD;
2.	Nhận xét kết quả của phương pháp phẫu thuật nội soi những bệnh nhân trên.</description>
    <dc:date>2025-12-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6442">
    <title>NHẬN XÉT KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI  THAI LẠC CHỖ Ở GÓC – KẼ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6442</link>
    <description>Title: NHẬN XÉT KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI  THAI LẠC CHỖ Ở GÓC – KẼ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN
Authors: Nguyễn Xuân, Chung
Abstract: Thai lạc chỗ hay còn được gọi là thai ngoài tử cung là hiện tượng trứng thụ tinh, làm tổ và phát triển ngoài buồng tử cung. Đây là một cấp cứu sản phụ khoa, nếu không được chẩn đoán, xử trí kịp thời, khối thai vỡ gây chảy máu trong ổ bụng đe dọa tính mạng người bệnh và thậm chí tử vong. Tỉ lệ thai lạc chỗ có xu hướng tăng tại Việt Nam và trên toàn thế giới. Theo nghiên cứu của Stulberg tại Hoa Kỳ, tỉ lệ thai lạc chỗ giai đoạn 1991 - 1992 là 1,97%, tăng lên 2,07% - 2,43% trong giai đoạn 2000 - 2003 [1]. Nghiên cứu của Mai Trọng Dũng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỉ lệ thai lạc chỗ ngày càng tăng, từ năm 2003 đến 2013 là 6,67%, năm 2015 là 6,9% trường hợp thai lạc chỗ trên tổng số người bệnh đến điều trị [2]. Theo nghiên cứu của Vương Tiến Hòa có tới 56,51% thai lạc chỗ chẩn đoán muộn [3]. &#xD;
Việc phân biệt thai ở góc tử cung hay thai ở đoạn kẽ vòi tử cung trên thực tế gặp nhiều khó khăn, ngoài ra còn do sự không nhất quán về thuật ngữ trong các tài liệu [4]. Thai lạc chỗ ở góc - kẽ tử cung chiếm tỉ lệ 2 - 4% tổng số thai lạc chỗ và khoảng 1 trong 2.500 - 5.000 trẻ sinh sống [5]. Mặc dù hiếm gặp nhưng thai lạc chỗ ở góc - kẽ tử cung có tỷ lệ vỡ là 13,6%, tỷ lệ tử vong mẹ cao khoảng 2 - 2,5%, chiếm 20% tổng số ca tử vong do thai lạc chỗ, cao gấp 7 lần so với thai lạc chỗ ở vị trí khác trên vòi tử cung [5].&#xD;
Thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung có khả năng phát triển lớn hơn so với thai lạc chỗ ở những vị trí khác cùng trên vòi tử cung. Do đặc điểm khối thai nằm trong lớp cơ tử cung dày, khả năng giãn nở tốt của lớp cơ bao quanh túi thai, vì vậy có các triệu chứng muộn nên chẩn đoán có thể trì hoãn hoặc bỏ sót [4]. Thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung nhận được nguồn máu nuôi dồi dào bởi các nhánh tận của động mạch tử cung và vòng nối với động mạch vòi tử cung, nên mất máu nhiều và sốc có thể xảy ra rất nhanh, khi vỡ nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Biến chứng nguy hiểm nhất của thai làm tổ ở vị trí này là vỡ khối thai, gặp trong 20% trường hợp và thường gặp lúc thai trên 12 tuần [6], [7]. Thai lạc chỗ ở góc - kẽ tử cung thường được chẩn đoán từ sau tuổi thai 9 - 12 tuần, chậm hơn so với xảy ra ở các vị trí khác của vòi tử cung, thậm chí có ca được báo cáo vỡ khi thai đã 17 tuần [8]. Tuy nhiên, cũng có nhiều báo cáo vỡ khối chửa lúc tuổi thai 7 - 9 tuần [9]. &#xD;
Chẩn đoán và điều trị sớm thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung là một trong những chìa khóa để giảm nguy cơ vỡ khối chửa cho người bệnh. Phương thức điều trị thai ở góc – kẽ tử cung có thể là nội khoa hoặc phẫu thuật. Can thiệp phẫu thuật là một chọn lựa điều trị quan trọng, đôi khi là chỉ định tuyệt đối trong một số trường hợp [10]. Gần đây, khi kỹ thuật nội soi phát triển, phẫu thuật nội soi dần thay thế phẫu thuật mở trong điều trị thai ở góc – kẽ tử cung.&#xD;
Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi (PTNS) trong điều trị thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung đã được sử dụng ở nhiều bệnh viện trên cả nước, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu được báo cáo vì tỷ lệ mắc bệnh thấp. Tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An, PTNS điều trị thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung đã được ứng dụng trong vài năm trở lại đây nhưng chưa có các báo cáo và nguyên cứu tổng kết. Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nhận xét kết quả phẫu thuật nội soi thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An” với 2 mục tiêu sau: &#xD;
1.	Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân thai lạc chỗ ở góc – kẽ tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ năm 2022 đến năm 2024.&#xD;
2.	Nhận xét kết quả của phương pháp phẫu thuật nội soi những bệnh nhân trên.</description>
    <dc:date>2025-12-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6441">
    <title>NHẬN XÉT PHẪU THUẬT NỘI SOI BUỒNG TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6441</link>
    <description>Title: NHẬN XÉT PHẪU THUẬT NỘI SOI BUỒNG TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN
Authors: Trần, Xuân Cảnh
Abstract: Trong thời gian thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 182 trường hợp bệnh nhân có tổn thương buồng tử cung được phẫu thuật bằng nội soi buồng tử cung. Trên cơ sở kết quả thu được, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:&#xD;
1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng &#xD;
-	Tuổi trung bình là 38,4 ± 7,0 tuổi, nhóm tuổi 35–45 chiếm 45,1%. BMI trung bình 21,3 ± 1,9; 92,4% có BMI bình thường.&#xD;
-	79,7% bệnh nhân đã sinh con, trong đó 49,5% sinh ≥2 lần; tỷ lệ chưa sinh là 20,3%. 68,7% có kinh nguyệt không đều và 41,8% có ra máu âm đạo; 4,9% vô sinh.&#xD;
-	Trên siêu âm 2D, polyp buồng tử cung là loại tổn thương chủ yếu (83,5%), u xơ tử cung dưới niêm chiếm 16,5%. Trong đó chủ yếu gặp dạng đơn độc (90,7%) và có kích thước &lt; 30 mm (94%), hầu như không xâm lấn cơ tử cung (95,6%). Vị trí thường gặp nhất là ở thành trước và thành sau tử cung.&#xD;
2.	Kết quả phẫu thuật nội soi buồng tử cung&#xD;
-	Trên nội soi buồng tử cung, có 150 polyp buồng tử cung (82,4%) và 32 u xơ dưới niêm (17,6%). &#xD;
-	Polyp đa số đơn độc (76,7%), một phần nhỏ có ≥ 3 polyp (13,3%), phân bố chủ yếu ở thành trước (38,2%) và thành sau (36,2%), đáy tử cung 25,6%, chủ yếu &lt; 30 mm (84,7%)&#xD;
-	U xơ dưới niêm: 87,5% là u đơn nhân, kích thước &lt; 30 mm chiếm khoảng 2/3. Phân loại FIGO: type 0 chiếm 75%, type 1 và 2 chỉ 12,5% mỗi nhóm &#xD;
-	Đa số hoàn thành ≤ 60 phút (70,3%), chỉ 13,8% &gt; 120 phút. Không ghi nhận bất kỳ tai biến trong mổ nào (thủng TC, chảy máu, rách CTC, bỏng, tai biến mê, dịch).&#xD;
-	Tỷ lệ cắt hoàn toàn tổn thương đạt 91,2%. Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cắt không hoàn toàn là tổn thương có kích thước ≥ 30 mm (p &lt; 0,001).</description>
    <dc:date>2025-12-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6440">
    <title>Xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2023-2024</title>
    <link>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6440</link>
    <description>Title: Xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2023-2024
Authors: Le Van, Hoanh
Abstract: Rau cài răng lược (RCRL) là một rối loạn nghiêm trọng trong quá trình làm tổ của bánh rau, xảy ra khi các gai rau xâm lấn bất thường vào lớp cơ tử cung do khiếm khuyết của lớp màng rụng nền. Đây là một biến chứng sản khoa nguy hiểm, thường đi kèm nguy cơ băng huyết nặng và phải can thiệp phẫu thuật lớn, đặc biệt là cắt tử cung. Việc xử trí RCRL đòi hỏi tiếp cận đa chuyên khoa bao gồm sản khoa, gây mê hồi sức, huyết học và đôi khi cả phẫu thuật ngoại khoa. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh lý này đang ngày càng tăng, phần lớn liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai và các can thiệp tử cung trước đó. Tại Hoa Kỳ, giai đoạn 1996 - 2002 tỉ lệ này là 0,08%1 đến giai đoạn 2015 - 2017 là 0,29%2. Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 2007 - 2011 tỉ lệ RCRL quan sát trên tổng số ca đẻ là 0,1%3 năm 2015 là 0,29%4 và đến năm 2017 là 0,39%5. Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giai đoạn 2014 - 2017 tỉ lệ RCRL là 0,1%6, đến giai đoạn 2018 - 2019 tỉ lệ này là 0,14%7.&#xD;
RCRL thường xảy ra ở phụ nữ mang thai có các yếu tố nguy cơ như đẻ nhiều lần, nạo hút thai nhiều lần, tiền sử viêm niêm mạc tử cung, đặc biệt hay gặp ở những bệnh nhân có tiền sử mổ lấy thai với hình thái RCRL đâm xuyên qua cơ tử cung, xâm lấn vào các cơ quan xung quanh.&#xD;
Tỉ lệ mắc RCRL được chứng minh là tăng lên có ý nghĩa thống kê cùng với tỉ lệ mổ lấy thai và trên các sản phụ rau tiền đạo. Tại BVPSTW, theo Nguyễn Đức Hinh, tỉ lệ RCRL ở sản phụ rau tiền đạo trên sẹo mổ lấy thai cũ là 2,9% (1989 - 1990) và 6,4% (1993 - 1994) 8. Sau đó, tỉ lệ này đã tăng lên 12% trong nghiên cứu của Phạm Thị Phương Lan (2007). Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Huyền tại BVPSTW (2012 – 2014) cho kết quả 89,22% sản phụ có tiền sử mổ đẻ cũ, tiền sử mổ đẻ 1 lần làm tăng nguy cơ RCRL lên gấp 18,5 lần, tiền sử MLT ≥ 2 lần thì có nguy cơ bị RCRL cao gấp 19,44 lần, nạo hút thai ≥4 lần làm tăng nguy cơ bị RCRL cao gấp 18,5 lần 9. Gần đây nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Hoa còn cho tỉ lệ sản phụ RCRL có tiền sử mổ lấy thai là 100% 7.&#xD;
Bệnh viện Sản - Nhi Nghệ An là cơ sở y tế chuyên khoa đầu ngành về sản phụ khoa và nhi khoa của tỉnh Nghệ An, đồng thời đang từng bước phát triển để trở thành trung tâm chuyên môn cao của khu vực Bắc Trung Bộ. Trong những năm gần đây, bệnh viện đã tiếp nhận và điều trị nhiều trường hợp rau cài răng lược (RCRL), một biến chứng sản khoa nghiêm trọng. Việc mổ lấy thai ở bệnh nhân RCRL luôn là một thách thức lớn do nguy cơ chảy máu ồ ạt, phải cắt tử cung, tổn thương các cơ quan lân cận, và thậm chí có thể gây tử vong cho cả mẹ và thai nhi.&#xD;
Tuy nhiên, tại Bệnh viện Sản - Nhi Nghệ An hiện vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về bệnh lý này nhằm đánh giá đầy đủ các yếu tố lâm sàng, tiên lượng và phương pháp xử trí hiệu quả. Việc thiếu hụt dữ liệu cụ thể đã gây khó khăn cho bác sĩ trong việc tư vấn và lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Xử lý rau cài răng lược tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An” với 02 mục tiêu sau:&#xD;
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở sản phụ rau cài răng lược tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2023-2024.&#xD;
2. Nhận xét kết quả xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2023-2024.</description>
    <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
</rdf:RDF>

