<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <title>DSpace Community: Lưu trữ luận an/ luận văn và khóa luận tốt nghiệp</title>
  <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/254" />
  <subtitle>Lưu trữ luận an/ luận văn và khóa luận tốt nghiệp</subtitle>
  <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/254</id>
  <updated>2026-10-27T13:35:30Z</updated>
  <dc:date>2026-10-27T13:35:30Z</dc:date>
  <entry>
    <title>Tổng quan về rửa mũi bằng corticoid sau phẫu thuật nội soi mũi xoang ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6507" />
    <author>
      <name>Nguyễn, Đức Hưng</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6507</id>
    <updated>2026-10-27T03:25:29Z</updated>
    <published>2026-10-26T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Tổng quan về rửa mũi bằng corticoid sau phẫu thuật nội soi mũi xoang ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính
Authors: Nguyễn, Đức Hưng</summary>
    <dc:date>2026-10-26T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>Thực trạng kiến thức, thái độ của bác sĩ về chẩn đoán chết não để hiến tạng và một số thuận lợi, khó khăn tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2025</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6506" />
    <author>
      <name>Bùi Anh Quân</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6506</id>
    <updated>2026-10-26T07:45:30Z</updated>
    <published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Thực trạng kiến thức, thái độ của bác sĩ về chẩn đoán chết não để hiến tạng và một số thuận lợi, khó khăn tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2025
Authors: Bùi Anh Quân</summary>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>ỨNG DỤNG CT SCANNER 3D TRONG ĐÁNH GIÁ BIẾN DẠNG MŨI VÀ TẦNG GIỮA MẶT THỨ PHÁT TRÊN BỆNH NHÂN KHE HỞ MÔI VÒM MỘT BÊN</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6505" />
    <author>
      <name>Vũ, Minh Đức</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6505</id>
    <updated>2026-10-21T07:51:26Z</updated>
    <published>2026-10-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: ỨNG DỤNG CT SCANNER 3D TRONG ĐÁNH GIÁ BIẾN DẠNG MŨI VÀ TẦNG GIỮA MẶT THỨ PHÁT TRÊN BỆNH NHÂN KHE HỞ MÔI VÒM MỘT BÊN
Authors: Vũ, Minh Đức
Abstract: Mục tiêu: Mô tả biến dạng mũi thứ phát của bệnh nhân khe hở môi vòm một bên trên CT Scanner 3D. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 25 bệnh nhân khe hở môi có thể kèm hở cung răng, vòm miệng bẩm sinh đã phẫu thuật khám lại tại bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 từ tháng 08/2025 đến tháng 08/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 19,96 ± 9,76 tuổi, dao động 14–54 tuổi; nhóm 14–25 tuổi chiếm 84%, nam chiếm 60% và khe hở bên trái chiếm 80%. Khe hở môi kết hợp vòm miệng và cung răng chiếm tỷ lệ cao nhất (52%). Chiều dài, rộng và cao mũi trung bình lần lượt là 37,47 ± 2,93 mm; 41,27 ± 3,22 mm và 16,12 ± 2,11 mm; độ cao và rộng trụ mũi lần lượt 6,95 ± 1,05 mm và 6,55 ± 0,94 mm; khoảng cách Prn–MSP là 3,11 ± 2,05 mm.  Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 6 thông số hình thái mũi giữa nhóm có và không có khe hở vòm miệng (p&gt;0,05); Trụ mũi–MSP có xu hướng lớn hơn ở nhóm có khe hở (p=0,097). AL–FH bên bệnh lớn hơn bên lành, AL–Coronal bên bệnh cao hơn bên lành và AL–MSP bên bệnh nhỏ hơn bên lành, có ý nghĩa thống kê. Khoảng cách nền mũi bên bệnh và bên lành không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,0509). Khoảng cách Pr–MSP chưa khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bên bệnh và bên lành (p=0,061), dù bên bệnh có xu hướng lớn . Pr–FH bên bệnh lớn hơn và Pr–Coronal bên bệnh nhỏ hơn bên lành, có ý nghĩa thống kê (p&lt;0,001).&#xD;
Kết luận: CT Scanner 3D cho phép đánh giá và định lượng chính xác biến dạng đồng thời trên xương – mô mềm, giúp làm rõ sự khác biệt phức tạp giữa cấu trúc xương và mô mềm trong biến dạng mũi thứ phát ở bệnh nhân khe hở môi – vòm một bên.&#xD;
Từ khóa: Khe hở môi vòm; biến dạng mũi, CT Scanner 3D</summary>
    <dc:date>2026-10-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>Giá trị một số yếu tố trong chẩn đoán vỡ túi độn ngực silicone</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6504" />
    <author>
      <name>Dương, Nguyễn Việt Anh</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6504</id>
    <updated>2026-10-21T07:50:39Z</updated>
    <published>2026-10-12T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Giá trị một số yếu tố trong chẩn đoán vỡ túi độn ngực silicone
Authors: Dương, Nguyễn Việt Anh</summary>
    <dc:date>2026-10-12T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>THỰC TRẠNG NĂNG LỰC AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG NĂM 4 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2026</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6503" />
    <author>
      <name>Pham, Thi Tu Anh</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6503</id>
    <updated>2026-10-21T07:49:23Z</updated>
    <published>2026-08-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG NĂM 4 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2026
Authors: Pham, Thi Tu Anh
Abstract: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng về năng lực an toàn người bệnh (ATNB) của sinh viên điều dưỡng năm&#xD;
thứ tư tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2026 và một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu mô tả cắt ngang&#xD;
được thực hiện trên 152 sinh viên điều dưỡng năm 4 tại Trường Đại học Y Hà Nội từ tháng 7 năm 2025&#xD;
đến tháng 5 năm 2026. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi H-PEPSS đã được Việt hóa và đánh giá độ phù&#xD;
hợp trước khi thu thập số liệu; dữ liệu được thu thập qua khảo sát tự điền. Năng lực ATNB của sinh viên&#xD;
điều dưỡng năm 4 có điểm trung bình chung đạt 3,59 ± 0,42; trong đó 17,8% sinh viên đạt mức 4 trở lên và&#xD;
82,2% đạt mức dưới 4. Trong sáu lĩnh vực năng lực, Giao tiếp hiệu quả có điểm trung bình cao nhất (3,68&#xD;
± 0,60), trong khi Làm việc theo nhóm giữa các nhân viên y tế có điểm thấp nhất (3,53 ± 0,51). Chưa ghi&#xD;
nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa năng lực ATNB với các đặc điểm cá nhân của sinh viên (p &gt;&#xD;
0,05). Nhìn chung, năng lực ATNB của sinh viên điều dưỡng đạt mức trung bình khá, tuy nhiên chưa đồng&#xD;
đều giữa các lĩnh vực; mức độ tự tin vẫn còn hạn chế ở các lĩnh vực “Làm việc nhóm” và “Nhận biết, Ứng&#xD;
phó và Báo cáo các Sự cố y khoa và Nguy cơ xảy ra sự cố y khoa”. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tiếp&#xD;
tục tăng cường đào tạo an toàn người bệnh, đặc biệt chú trọng phát triển năng lực làm việc nhóm, nhận&#xD;
diện, dự phòng và ứng phó với các sự cố y khoa, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo đảm ATNB&#xD;
trong thực hành lâm sàng.</summary>
    <dc:date>2026-08-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>ỨNG DỤNG SỤN SƯỜN KẾT HỢP CÂN CƠ THẲNG BỤNG TRONG TẠO HÌNH MŨI SAU CHẤN THƯƠNG</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6502" />
    <author>
      <name>VŨ, ANH ĐỨC</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6502</id>
    <updated>2026-10-14T08:11:59Z</updated>
    <published>2026-10-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: ỨNG DỤNG SỤN SƯỜN KẾT HỢP CÂN CƠ THẲNG BỤNG TRONG TẠO HÌNH MŨI SAU CHẤN THƯƠNG
Authors: VŨ, ANH ĐỨC
Abstract: ỨNG DỤNG SỤN SƯỜN KẾT HỢP CÂN CƠ THẲNG BỤNG TRONG TẠO HÌNH MŨI SAU CHẤN THƯƠNG</summary>
    <dc:date>2026-10-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM CÁC PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CONG DƯƠNG VẬT BẨM SINH Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6501" />
    <author>
      <name>Trần, Thế Lực</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6501</id>
    <updated>2026-10-14T08:11:15Z</updated>
    <published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM CÁC PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CONG DƯƠNG VẬT BẨM SINH Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
Authors: Trần, Thế Lực
Abstract: Tài liệu tổng quan luận điểm về các phương pháp phẫu thuật tạo hình điều trị bệnh lý cong dương vật bẩm sinh ở người trưởng thành</summary>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM VỀ PHẪU THUẬT ĐỘN THÁI DƯƠNG &#xD;
BẰNG VẬT LIỆU NHÂN TẠO</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6500" />
    <author>
      <name>NGUYỄN, HỒNG SƠN</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6500</id>
    <updated>2026-10-14T08:08:57Z</updated>
    <published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM VỀ PHẪU THUẬT ĐỘN THÁI DƯƠNG &#xD;
BẰNG VẬT LIỆU NHÂN TẠO
Authors: NGUYỄN, HỒNG SƠN
Abstract: Trũng thái dương (temporal hollowing) là tình trạng mất thể tích vùng thái dương do thiếu hụt mô mềm hoặc teo cơ thái dương, làm vùng thái dương trở nên lõm, tăng sự lộ rõ của cung gò má và bờ xương trán, từ đó ảnh hưởng đến sự cân đối của khuôn mặt.1,2 Tình trạng này có thể gặp do lão hóa, dị tật bẩm sinh, chấn thương, nhưng thường xuất hiện sau các phẫu thuật vùng sọ mặt, đặc biệt là mở sọ qua đường vành, lấy vạt cơ thái dương hoặc các phẫu thuật tái tạo vùng đầu mặt cổ.3–5 Sau các can thiệp này, teo cơ thái dương và mất thể tích mô mềm có thể gây biến dạng rõ rệt vùng thái dương, ảnh hưởng đến kết quả thẩm mỹ, sự đối xứng khuôn mặt cũng như chất lượng cuộc sống và mức độ hài lòng của người bệnh. Vì vậy, phục hồi thể tích vùng thái dương hiện được xem là một mục tiêu quan trọng trong cả phẫu thuật tái tạo và phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ.&#xD;
Hiện nay, nhiều phương pháp đã được áp dụng để cải thiện thể tích hố thái dương như ghép mỡ tự thân, ghép cân cơ, ghép xương, sử dụng vạt tổ chức hoặc độn bằng vật liệu nhân tạo.5 Trong đó, ghép mô tự thân có ưu điểm về tính tương hợp sinh học nhưng kết quả có thể không ổn định do hiện tượng tiêu mô, đồng thời làm tăng thời gian phẫu thuật và gây tổn thương tại vị trí lấy mô.6 Ngược lại, vật liệu nhân tạo (alloplastic materials) không yêu cầu lấy mô tự thân, có khả năng tạo hình và kiểm soát thể tích tương đối chính xác, đồng thời có thể duy trì kết quả lâu dài. Vì vậy, vật liệu nhân tạo ngày càng được ứng dụng trong tái tạo trũng và phục hồi thể tích vùng thái dương.&#xD;
Các loại vật liệu nhân tạo đã được sử dụng trong phẫu thuật độn thái dương, bao gồm silicone, polyethylene xốp (porous polyethylene/Medpor), polymethyl methacrylate (PMMA), expanded polytetrafluoroethylene (e-PTFE) và các vật liệu được thiết kế theo hình thái giải phẫu, trong đó có sản phẩm ứng dụng công nghệ in 3D.7 C ác vật liệu có sự khác biệt về tính chất cơ học, khả năng tích hợp mô, phương thức cố định, khả năng tạo hình và nguy cơ biến chứng, do đó có thể ảnh hưởng đến kết quả thẩm mỹ và độ an toàn sau phẫu thuật.8–14 Bên cạnh lựa chọn vật liệu, kỹ thuật phẫu thuật, vị trí đặt implant, phương pháp cố định và đặc điểm khuyết hổng cũng là những yếu tố có thể quyết định kết quả phẫu thuật. Sự đa dạng này tạo ra nhiều lựa chọn trong phẫu thuật nhưng đồng thời làm cho việc so sánh và khái quát hóa bằng chứng giữa các nghiên cứu trở nên khó khăn. Các nghiên cứu về phẫu thuật độn thái dương bằng vật liệu nhân tạo hiện còn hạn chế, phân tán và không đồng nhất về đối tượng, chỉ định, vật liệu, kỹ thuật phẫu thuật, phương pháp đánh giá và thời gian theo dõi; phần lớn là nghiên cứu quan sát, báo cáo ca bệnh hoặc loạt ca bệnh. Do đó, chưa có bức tranh tổng thể về các bằng chứng hiện có cũng như những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu. Trong bối cảnh này, tổng quan luận điểm (scoping review) là phương pháp phù hợp nhằm mô tả và lập bản đồ bằng chứng, hệ thống hóa các nhóm đối tượng, chỉ định, vật liệu, kỹ thuật, kết quả và biến chứng đã được báo cáo, đồng thời xác định các khoảng trống bằng chứng.&#xD;
Tại Việt Nam, phẫu thuật độn thái dương bằng vật liệu nhân tạo đã được ứng dụng trong cả phẫu thuật tái tạo và phẫu thuật thẩm mỹ, tuy nhiên các báo cáo còn ít và chủ yếu tập trung vào từng kỹ thuật hoặc từng loại vật liệu riêng lẻ. Đến nay, chưa có tổng quan luận điểm hệ thống hóa và lập bản đồ các bằng chứng về phẫu thuật độn thái dương bằng vật liệu nhân tạo trên cả nhóm thẩm mỹ nguyên phát và nhóm tạo hình trũng thái dương thứ phát. Xuất phát từ khoảng trống đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tổng quan luận điểm về phẫu thuật độn thái dương bằng vật liệu nhân tạo”</summary>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM VỀ PHẪU THUẬT THU GỌN GÓC HÀM TRONG THẨM MỸ KHUÔN MẶT</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6499" />
    <author>
      <name>DOÃN, THÁI SƠN</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6499</id>
    <updated>2026-10-14T08:08:22Z</updated>
    <published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM VỀ PHẪU THUẬT THU GỌN GÓC HÀM TRONG THẨM MỸ KHUÔN MẶT
Authors: DOÃN, THÁI SƠN
Abstract: Phẫu thuật thu gọn góc hàm (Mandibular angle reduction) là kỹ thuật được ứng dụng trong lĩnh vực phẫu thuật thẩm mỹ - tạo hình sọ mặt, nhằm cải thiện hình dáng của vùng hàm dưới ở những người có góc hàm vuông, to hoặc nhô rộng khiến khuôn mặt trở nên kém nữ tính, mất cân đối và nặng nề. Phẫu thuật này rất phổ biến ở phụ nữ châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á, nhằm cải thiện tình trạng phì đại xương góc hàm, phì đại cơ cắn, hoặc sự kết hợp của cả hai yếu tố.1,2 Các nghiên cứu nhân trắc học đã chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về kích thước khuôn mặt giữa các chủng tộc khác nhau, khoảng cách lưỡng góc hàm trung bình ở phụ nữ người da trắng là từ 105 đến 109 mm, trong khi ở phụ nữ Hàn Quốc, con số này dao động từ 118 đến 125 mm.3–5&#xD;
Phẫu thuật thu gọn góc hàm gồm 2 nhóm kỹ thuật chính là thu gọn cơ cắn và cắt xương hàm.6 Trong đó, cắt xương thường được các phẫu thuật viên ưu tiên hơn bởi các ưu điểm vượt trội.6,7 Hiện nay, phẫu thuật này được thực hiện chủ yếu qua đường mổ trong miệng, cho phép tiếp cận và loại bỏ phần xương góc hàm dư thừa mà không để lại sẹo ngoài da, nhờ đó đạt hiệu quả thẩm mỹ cao và hạn chế biến chứng về mặt sẹo.6 Trong thập kỷ qua, sự phát triển của các thiết bị phẫu thuật tiên tiến như cưa siêu âm (ultrasonic bone scalpel), máy cắt piezoelectric và hệ thống định vị nội soi đã góp phần nâng cao độ chính xác trong cắt xương, giảm thiểu tổn thương mô mềm lân cận, rút ngắn thời gian mổ và phục hồi sau phẫu thuật.8 Đồng thời, cải tiến trong kỹ thuật gây mê và hồi sức ngoại khoa cũng giúp kiểm soát tốt hơn nguy cơ tai biến, đặc biệt là giảm thiểu mất máu trong mổ.9&#xD;
Phẫu thuật thu gọn góc hàm mang lại cải thiện rõ rệt về đường nét khuôn mặt, đặc biệt trong việc tạo hình mặt trái xoan, và tỷ lệ hài lòng của bệnh nhân đạt từ 84% đến 92% sau 6 đến 12 tháng hậu phẫu.10–12 Tuy nhiên, đây là phẫu thuật vùng sọ mặt có liên quan đến nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng và vẫn tiềm ẩn nguy cơ biến chứng. Một số biến chứng đã được ghi nhận bao gồm tổn thương thần kinh huyệt răng dưới, tụ máu, nhiễm trùng, hạn chế vận động hàm, thay đổi chức năng cơ cắn và mất cân đối hai bên góc hàm.13 Bên cạnh đó, kết quả của phẫu thuật không chỉ được thể hiện qua sự thay đổi hình thái mà còn liên quan đến chức năng, sự hài lòng và cảm nhận của người bệnh. Vì vậy, việc đánh giá kết quả cần được xem xét trên nhiều phương diện, bao gồm cả các chỉ số khách quan về hình thái và các kết cục do người bệnh báo cáo.&#xD;
Mặc dù số lượng nghiên cứu về phẫu thuật thu gọn góc hàm ngày càng tăng trên thế giới và cả ở Việt Nam, bằng chứng hiện có vẫn còn phân tán và không đồng nhất về nhiều khía cạnh quan trọng. Các nghiên cứu khác biệt về tiêu chí lựa chọn và chỉ định phẫu thuật, đặc điểm hình thái của người bệnh, kỹ thuật cắt xương, phương pháp tiếp cận và dụng cụ phẫu thuật. Các phương pháp đánh giá kết quả cũng rất đa dạng, từ các chỉ số nhân trắc và hình ảnh học đến đánh giá thẩm mỹ, chức năng, mức độ hài lòng và các kết cục do người bệnh báo cáo. Bên cạnh đó, tiêu chí xác định và cách báo cáo tai biến, biến chứng chưa thống nhất giữa các nghiên cứu, gây khó khăn cho việc tổng hợp, so sánh và ứng dụng bằng chứng vào thực hành lâm sàng. Thực tế trên đã đặt ra câu hỏi “Những chỉ định, kỹ thuật, các phương pháp thu gọn góc hàm nào đã được báo cáo và phương pháp đánh giá kết quả được ghi nhận như thế nào?” Việc trả lời câu hỏi này thông qua tổng quan luận điểm sẽ giúp lập bản đồ các bằng chứng hiện có, hệ thống hóa các phương pháp phẫu thuật và đánh giá kết quả, đồng thời xác định những khoảng trống bằng chứng cần được tiếp tục nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tổng quan luận điểm về phẫu thuật thu gọn góc hàm trong thẩm mỹ khuôn mặt” với mục tiêu:&#xD;
1.	Mô tả đặc điểm các công trình nghiên cứu về phẫu thuật thu gọn góc hàm trong thẩm mỹ khuôn mặt.&#xD;
2.	Tổng hợp các kỹ thuật, phương pháp đánh giá và kết quả được báo cáo của phẫu thuật thu gọn góc hàm trong thẩm mỹ khuôn mặt.&#xD;
 </summary>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>Thực trạng thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2025 và một số yếu tố liên quan</title>
    <link rel="alternate" href="http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6498" />
    <author>
      <name>Nguyễn Thị, Lụa</name>
    </author>
    <id>http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/6498</id>
    <updated>2026-10-14T08:07:38Z</updated>
    <published>2026-01-01T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Thực trạng thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2025 và một số yếu tố liên quan
Authors: Nguyễn Thị, Lụa
Abstract: Mục tiêu: Mô tả thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2025. &#xD;
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 229 điều dưỡng và hộ sinh tại các khoa và trung tâm lâm sàng. Thực hành phân loại chất thải rắn y tế được đánh giá bằng bảng kiểm quan sát theo Thông tư 20/2021/TT-BYT. &#xD;
Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ chung về phân loại chất thải rắn y tế đạt 98,3%. Tỷ lệ phương tiện phân loại chất thải rắn y tế đạt 79,5%; trong đó tiêu chí thùng có nắp đậy kín có tỷ lệ thấp nhất (87,3%). Tất cả nhân viên y tế được quan sát đều thực hiện phân loại chất thải ngay sau khi phát sinh. Tỷ lệ phân loại đúng thùng/hộp đạt 98,3%; trong đó chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải tái chế đạt 100,0%, còn chất thải lây nhiễm không sắc nhọn có tỷ lệ thấp nhất là 98,1%. &#xD;
Kết luận: Thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng và hộ sinh đạt tỷ lệ cao. Tuy nhiên, phương tiện phân loại chất thải chưa đồng bộ hoàn toàn. Do đó, cần tiếp tục duy trì giám sát, đào tạo định kỳ và hoàn thiện phương tiện phân loại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế.</summary>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
</feed>

